Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Cây dó bầu

Nguyễn Văn Minh

I. CÂY DÓ BẦU: (Aquilaria crassna, Pierre ex.
Lecomte)

Họ (Family): Trầm (Thymelaeaceae)

Họ này có 2 giống (species): - Aquilaria và – Gyrinops

Giống Aquilaria có tất cả 24 loài khác nhau, gồm:

A. acuminate (Merr.) Quis, A. apiculata Elmer, A. apiculata Merr,  A. baillonii Pierre ex Lecomte, A. banaense Pham Hoang Ho, A. beccariana van Tiegh, A. brachyantha (Merr.) Hall.f, A. citrinaecarpa (Elmer) Hall.f,   A. crassna Pierre ex Lecomte, A. cumingiana (Decne) Ridl, A. filaria (Oken) Merr, A. grandiflora Bth, A. hirta Ridl, A.khasiana H. Hallier, A. microcarpa Baill, A. moszkowskii Gilg, A. parvifolia (Quis.) Ding Hou, A. rostrata Ridl, A.secundana D.C, A. sinensis Merr, A. subintegra Ding Hou, A. tomentosa Gilg, A. urdanetensis (Elmer) Hall.f, A. yunnanensia S.C.Huang.

            Mới đây, tiến sĩ Lê Công Kiệt (Việt Nam) và tiến sĩ Paul Kessler (Hà Lan) vừa phát hiện loài thứ 25 ở cao nguyên Trung Bộ trong năm 2005 có tên khoa học là Aquilaria rugosa L.C.Kiet & PJ.A.Kessler.     

Tên khác: Trầm, Dó bầu, Kỳ nam, Rà hương.

Tên nước ngoài:

Agarwood, Malayan aloeswood, Malayan eaglewood (Anh).

Bois d’aigle, Calambac, Calambour (Pháp).

Tuchenxiang (tiếng phổ thông Ch’en Hsiang) (Trung Quốc).

Crassna, Krassna, Kresna, Chan krassna, Klampeok (Campuchia).

Gaharu, Tengkaras, Mengkaras (Inđônêxia).

 

II. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ:

Trên thế giới chi Trầm (Aquilaria) gồm khoảng 8 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới từ Ấn Độ đến Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Ở nước ta, hiện đã có 3 loài (A. crassna, A. banaensae Phamh. và A. baillonii Pierre ex Lecomte) phân bố rải rác trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh, mưa mùa, ẩm nguyên sinh thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, đặc biệt là từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quãng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận đến Tây Nguyên, An Giang, Kiên Giang và đảo Phú Quốc.

Trầm hương (A. crassna) còn gặp ở Lào và Campuchia. Đây là loại đặc hữu ở Đông Dương. Ngoài loài Trầm hương (A. crassna) thì 2 loài còn lại (A. banaensaeA. baillonii) cũng là những loài đặc hữu quý hiếm ở nước ta.

            Một loài gần gũi với A. crassna A. malaccensis Lamk, phân bố trong phạm vi rất rộng, từ Đông Bắc Ấn Độ, Mianma đến Thái Lan, Malaysia, Philippin và Indonesia.

 

III.  MÔ TẢ:

            Dó bầu là một loại cây gỗ thường xanh, cao 20 – 30 m, đường kính thân đạt 60 – 80 cm, thân thường thẳng, đôi khi có rãnh dạng lòng máng; bạch gốc cao tới 2 m; vỏ ngoài nhẵn, màu nâu xám, thịt vỏ màu trắng có nhiều chất xơ (celluloz), nứt dọc lăn tăn, dễ bóc và tước ngược từ gốc lên; cành mảnh, cong queo, màu nâu nhạt, có lông hoặc nhẵn, tán thưa. Lá đơn, mọc cách (so le); cuống lá dài 4 – 6 mm; phiến lá hình trứng, bầu dục thuôn đến mác thuôn, kích thước 8 – 15 x 2,5 – 9 cm, mỏng như giấy hoặc dai gần như da, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt hơn và có lông mịn; gốc lá thon nhọn dần hay tù; chóp lá nhọn, thuôn nhọn, tận cùng có mũi; gân bên 15 – 18 đôi, thay đổi thất thường, khá rõ ở mặt dưới. Cụm hoa hình tán hoặc chùm tán, mọc ở nách lá hoặc ở đầu cành, cuống cụm hoa mảnh, dài 2 – 3 cm. Hoa nhỏ, mẫu 5; đài hợp ở phần dưới, hình chuông, màu vàng lục, trắng nhạt hoặc vàng xám, phía ngoài có lông thưa; mặt trong gần như nhẵn, có 10 đường gân rõ; tồn tại ở quả; 5 thùy dài hình trứng thuôn, dài 12 – 15 mm. Phần phụ dạng cánh hoa, đính gần họng đài; nhị 10; bầu hình trứng, 2 ô, có lông rậm, gốc bầu có tuyến mật. Quả nang gần hình trứng ngược, hình quả lê, dài 4 cm, đường kính 2,5 – 3 cm, có lông mềm, ngắn, có mang dài tồn tại, khi khô nứt làm 2 mảnh, thường mỗi quả chỉ có một hạt.

 

IV.  SINH THÁI, SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN:

            Trầm hương sinh trưởng rải rác trong rừng thường xanh ẩm nhiệt đới, nguyên sinh hoặc thứ sinh trên đỉnh dông, trên sườn núi hoặc trên đất bằng ở độ cao 50 – 1.000 m (-1.200 m) so với mặt biển. Ở nước ta, Trầm hương thường phân bố rải rác trên sườn núi có độ dốc nhỏ, thoát nước. Trong quần xã của Trầm hương thường gặp các cây gỗ lớn: Táu (Hopea spp.), Huỳnh (Tarrieta sp.), Gụ mật (Sindora siamensis Teysm. Ex Miq.)… Đôi khi cũng gặp Trầm hương mọc trong rừng thứ sinh cùng các loài Thánh thất (Ailanthus triphysa (Dennst) Alst.), Mò lưng bạc (Cryptocarya metcalfiana Allen), Bưởi bung (Acronychia laurifolia Blume),  Mít nài (Artocarpus asperula) và Ràng ràng (Ormosia sp.)…

            Trầm hương (A. crassna) ưa đất feralit điển hình, feralit trên núi phong hóa từ đá kết, đá phiến hay đá granit. Lớp đất mặt trung bình hay mỏng, hơi ẩm, chua hoặc gần trung tính (pH vào khoảng từ 4 – 6).

            Tại Malaysia và vùng Đông Bắc Ấn Độ, Trầm (A. malaccensis) phân bố khá rải rác, độ gặp khoảng 2,5 cá thể trên một hecta. Cũng ở Đông Bắc Ấn Độ, Trầm (A. malaccensis) thường mọc rải rác ở độ cao từ 200 – 700 m, đôi khi lên tới 1.000 m. Trầm sinh trưởng trong các khu vực có lượng mưa hàng năm thay đổi từ 1.500 – 6.500 mm, nhiệt độ trung bình tối đa năm 22 – 28oC. Những kết quả quan sát ở vùng Đông Bắc Ấn Độ còn cho biết, Trầm hương phân bố chủ yếu trong rừng ẩm thường xanh hoặc rừng thường xanh; rất ít gặp trong rừng nửa rụng lá. Tuy nhiên, trong thực tế, cây dó bầu trước và sau khi tái tạo trầm vẫn sinh trưởng tốt ở những nơi có độ cao trên dưới 40 m so với mực nước biển.

            Trầm (A. malaccensis) thích ứng với các loại đất phong hóa trên nham thạch, trên các loại đá biến tính, nhưng cũng sinh trưởng tốt trên đất phong hóa từ sa thạch.

            Tại Malaysia, từ lâu đã đưa Trầm hương vào trồng trọt; những quần thể rừng Trầm (A. malaccensis) 67 năm tuổi đã có chiều cao trung bình 27 m, và đường kính thân trung bình 38 cm. Những cây Trầm có độ trưởng thành 80 năm tuổi tại miền Đông Bắc Ấn Độ, có chiều cao cây 25 – 30 m, và đường kính thân to nhất 55 – 70 cm. Ở miền Tây Bắc Ấn Độ (Arunachal Pradesh), các quần thể Trầm 8 năm tuổi đã có chiều cao gần 5 m, và đường kính thân gần 30 cm. Cũng ở Tây Bắc Ấn Độ, chúng thường bắt đầu ra hoa, kết quả ở thời kỳ đạt 7 – 9 năm tuổi. Những cá thể có kích thước trung bình cho năng suất hạt tốt, mỗi cây có thể cho tới 1,5 kg hạt.

            Các khối trầm thường được tạo thành trong thân cây hoặc trong những cành lớn, chúng là kết quả của cả một quá trình chuyển hoá các hoạt động bệnh lý ở những nơi bị bệnh, bị thương… Nấm là một thành phần có tác dụng trong các hoạt động đó. Song diễn biến của các quá trình đó ra sau thì cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu. Và hiểu biết của con người vẫn chưa đầy đủ. Các côn trùng đục thân cây thường có thể có mối liên hệ nào đó. Có giả thuyết cho rằng, trước tiên cây bị nấm gây bệnh tại những chỗ bị thương làm cho cây bị suy yếu, tiếp đó nấm thâm nhập vào cây và tạo thành các khối trầm. Nhựa trầm là sản phẩm từ cây hay do nấm tạo ra? Lý giải diễn biến của quá trình chuyển hóa để tạo thành các hợp chất hóa học trong nhựa trầm thế nào vẫn còn là vấn đề nan giải và vẫn chưa hiểu biết tường tận.

            Đến nay đã xác định được nấm Cytosphaera mangiferae có ở Trầm của loài A. malaccensis và nấm Melanotus flavolives chứa trong khối trầm từ loài A. sinensis.

 

V.  CÁC THÔNG TIN KHÁC VỀ THỰC VẬT:

            Nguồn Trầm hương chủ yếu được khai thác từ 3 loài Trầm: A. malaccensis (từ Ấn Độ và Malaysia), A. crassna (từ Việt Nam, Lào và Campuchia), và loài A. sinensis (từ Trung Quốc). Ba loài này có họ hàng gần gũi nhau, rất giống nhau. Chúng chỉ khác nhau ở chỗ thùy đài của 3 loài. Thùy đài của loài A. malaccensis rất ngắn, chỉ dài 2 – 3 mm; thùy đài của loài A. crassna dài hơn, đạt tới 12 – 15 mm; và thùy đài ở loài A. sinensis cũng chỉ dài 8 mm. Một số loài khác cùng chi Aquilaria spp. cũng cho trầm, nhưng với chất lượng thấp hơn. Ở các nước Đông Nam Á, người ta còn khai thác Trầm từ loài Gió leo (Enkleia malaccensis Griff.) và trong gỗ ở các loài Gonystylus bancanus (Miq.) Kurz, Gonystylusmacrophyllus (Miq.) Airy Shaw.

            Đôi khi người ta đã đắn đo cho rằng A. agallocha là một loài riêng, khác với loài A. malaccensis và cho nó là một dạng có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Ấn Độ trước kia và sau này là khu vực Malesian.

            Tên khoa học của loài Trầm hương ở nước ta, hiện vẫn còn có sự lẫn lộn trong một số tài liệu:

- A. agallocha Roxb. –Đỗ Tất Lợi, 1995;           

- A. malaccensis Lamk có các tên đồng nghĩa là A. crassna Pierre, A. agallocha Roxb. –Trần Đình Lý và cộng sự, 1991.

 

VI.  NHÂN GIỐNG VÀ GÂY TRỒNG:

            Cho đến nay việc nhân giống vẫn chủ yếu bằng hạt. Quả sau khi thu hái cần phơi trong bóng mát, chỉ sau vài ngày, vỏ quả sẽ nứt và hạt rơi ra. Mỗi quả chỉ chứa một hạt; cây có kích thước trung bình hàng năm chỉ cho chừng 2.000 hạt. Khối lượng trung bình của 1.000 hạt ở loài A. malaccensis nặng khoảng 670 gram. Hạt trầm mất sức nảy mầm rất nhanh, do đó cần gieo hạt ngay sau khi thu hái. Sau khi gieo chừng 10 – 12 ngày, hạt đã bắt đầu nảy mầm; tuy nhiên thời gian nảy mầm cũng có thể chậm hơn, đôi khi tới trên một tháng. Những thử nghiệm tại Ấn Độ đã cho biết, thời gian bảo quản có ảnh hưởng lớn đến khả năng nảy mầm của hạt. Gieo hạt ngay sau khi thu hái thì tỷ lệ nảy mầm đạt khoảng 65%; nếu bảo quản hạt một tuần rồi mới đem gieo thì tỷ lệ nảy mầm giảm rõ rệt, còn khoảng 45%. Sau ba tuần bảo quản, tỷ lệ hạt nảy mầm chỉ còn có 5%.

            Cây dó bầu sau khi trồng khoảng 4 – 5 năm tuổi thì bắt đầu ra hoa kết trái. Tùy vào điều kiện thời tiết của mỗi vùng mà thời gian ra hoa có khác nhau. Ở miền Trung Việt Nam, cây bắt đầu ra hoa vào tháng 3 và trái chín vào tháng 7 dương lịch. Nhưng ở miền Nam, thời gian ra hoa là tháng 2, trái chín tháng 5 – 6 dương lịch.

            Ở giai đoạn vườn ươm, cây con cần giữ đủ ẩm, cần che bóng và phòng trừ sâu bệnh. Khi cây mạ đạt 40 – 45 ngày tuổi thì cây đã cao khoảng 3 – 4 cm, có thể đánh trồng vào bầu đất. Khoảng 10 – 12 tháng tuổi, cây con đã đạt độ cao 30 – 35 cm, lúc này có thể đưa ra trồng trên diện tích sản xuất. Tại Malaysia, việc trồng cây con trong bầu với bộ rễ nguyên vẹn đã đạt tỷ lệ sống rất cao.

            Tại miền Đông Bắc Ấn Độ, thời vụ trồng Trầm trên diện tích sản xuất thường vào các tháng 5 – 6 và khoảng cách trung bình giữa các cá thể là     2,5 m x 2,5 m. Các quần thể Trầm của Malaysia đã được trồng theo khoảng cách 6 m x 2 m.

            Thời gian đầu, việc làm cỏ, làm vệ sinh trong các quần thể Trầm là rất cần thiết. Năm đầu tiên thường phải làm cỏ đến 4 lần; các năm tiếp theo, khi Trầm đã sinh trưởng tốt thì số lần làm cỏ sẽ giảm dần. Khi Trầm đã đạt 5 – 6 năm tuổi, mỗi năm chỉ cần làm cỏ một lần. Sau thời kỳ này, việc tỉa thưa dần để tạo điều kiện dinh dưỡng, độ thông thoáng và ánh sáng cho cả quần thể là hết sức cần thiết. Các quần thể Trầm tại Malaysia ở giai đoạn 67 năm tuổi, mật độ trung bình chỉ có 31 cây/ha.

            Trong rừng tự nhiên, để tạo điều kiện cho Trầm phục hồi và sinh trưởng, cần trồng dặm bổ sung hoặc phát quang loại bỏ dây leo và các cây khác có giá trị kém. Hiện vẫn chưa có thông tin gì về vấn đề sâu bệnh hại ở Trầm.

 

VII.  NGUỒN GEN VÀ TRIỂN VỌNG:

            Do Trầm là sản phẩm quý, hiếm, có giá trị cao trên thị trường nên nhiều năm qua ở nước ta cũng như tại các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trầm hương đã bị săn lùng và khai thác kiệt quệ. Chạy theo giá trị, người khai thác chặt phá tất cả mọi cây trầm bất kể lớn nhỏ để tìm trầm. Hậu quả là nguồn gen của Trầm bị mai một, có nơi hầu như không còn cây lớn để gieo trồng.

            Hiện Trầm đã được đưa vào danh mục các sản phẩm động thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt, cấm khai thác tự nhiên và buôn bán trên thị trường quốc tế (CITES).

            Để bảo vệ, phát triển, khôi phục nguồn gen đa dạng của các loài Trầm hương, đồng thời khai thác hiệu quả kinh tế, xã hội tuyệt vời của các sản phẩm Trầm thì đi đôi với việc bảo vệ, cấm khai thác nguồn gen tự nhiên là nghiên cứu gây trồng cùng các biện pháp để sản xuất trầm. Đây là phương án tích cực nhất, tối ưu nhất. Việc đưa vào các loài Trầm, đặc biệt là Trầm hương (A. crassna) vào cơ cấu cây rừng trong mục tiêu 5 triệu hecta rừng cũng như nghiên cứu các cơ sở khoa học để chủ động điều khiển các quá trình tạo trầm trong cây là công việc phải được đặt ra và triển khai khẩn trương.

 

VIII.  TÍNH CHẤT ĐẶC THÙ CỦA CÂY DÓ BẦU:

            Gỗ cây dó bầu có khả năng hình thành một loại sản phẩm đặc biệt gọi là Trầm hương, do cây bị một loại bệnh gây ra bởi tác động bên ngoài. Loại gỗ này tỏa ra mùi thơm và khi thả xuống nước thì chìm vì vậy mà có tên là trầm hương. Vì “trầm” theo chữ Hán có nghĩa là chìm, còn “hương” có nghĩa là mùi thơm.

            Căn cứ vào sự hóa nhựa nhiều hay ít mà có những sản phẩm như: Tóc, Trầm hương và Kỳ nam.

            a./ Tóc: có nguồn gốc từ chữ “tok” của người Campuchia, đó là do sự biến đổi chất gỗ bên ngoài, thường dùng để làm nhang.

            b./ Trầm hương: do sự phân hóa không trọn vẹn của các phần tử gỗ, gỗ ít tẩm nhựa hơn, màu nâu hay có sọc đen, nhẹ, nổi được trong nước, dùng để chưng cất tinh dầu.

            c./ Kỳ nam: (nghĩa là điều kỳ diệu của phương nam); do sự biến đổi hoàn toàn của các phần tử gỗ – Các phần tử gỗ thoái hoá, biến dạng, mất mộc tố chứa một chất nhựa thơm – có màu nâu đậm hay đen, nặng chìm trong nước, vị đắng. Thường hình thành ở phần lõi gỗ.

 

IX.  ĐẶC TÍNH CỦA TINH DẦU:

            Tinh dầu trầm hương là chất lỏng sánh, nhớt, dẻo, có màu vàng hoặc màu hổ phách đậm, mùi thơm dịu của trầm. Bằng khứu giác ta cảm thấy tinh dầu trầm có mùi thơm tương tự như mùi tinh dầu hương lau và tinh dầu đinh hương. Nó được dùng làm chất định hương, giữ cho hương thơm lâu và dậy mùi trong công nghiệp hương liệu. Một số kết quả phân tích của Thụy Sỹ đã cho biết, thành phần chủ yếu của tinh dầu trầm hương gồm các agarofuranoid, các sesquiterpenoid của nhóm chất eudesman, eremophilan, valencan và vetispiran.

            Khi chưng cất, các thành phần chính của tinh dầu thường bốc hơi ở nhiệt độ cao (khoảng 200oC). Nghiên cứu các mẫu trầm hương thương phẩm khác nhau từ Ấn Độ đã cho thấy thành phần hóa học của chúng cũng rất khác nhau.

            Gỗ trầm xốp, nhẹ; nhưng cứng, gỗ khô không khí có tỉ trọng 400 kg/m3. Gỗ có màu trắng kem, nâu vàng nhạt hoặc nâu xám; gỗ dác và gỗ lõi rất khó phân biệt; thớ gỗ thô và xốp. Vòng sinh trưởng rất khó nhận biết, song đôi khi cũng có thể phân biệt được. Bó mạch có kích thước vừa phải hoặc rất nhỏ, thường đơn độc hoặc xếp thành từng nhóm 2 đến 5 bó (theo mặt cắt ngang), mạch gỗ (mạch ray) rất đều. Mùi thơm của gỗ chủ yếu là do mùi của chất nhựa ở trầm gây ra. Chất keo nhựa tập trung chủ yếu ở các khối trầm. Khối trầm cứng, nặng và giòn. Hơn nữa, hầu hết các cục trầm thơm đều có chứa nấm cùng nhiều khoang nhỏ chứa các khuẩn ty. Hầu như tất cả các cây gỗ có trầm đều có mùi thơm tương tự như mọi cây Trầm bình thường khác; hoặc chỉ có thể thay đổi chút ít bởi các bó mạch.

 

X. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TINH DẦU TRẦM HƯƠNG:

            Năm 1960, Sadgopal đã nghiên cứu hàm lượng tinh dầu chứa trong mẫu cây khác nhau có độ tuổi từ 10 – 80 năm tuổi bằng phương pháp chưng cất hơi nước, và kết quả hàm lượng tinh dầu thu được là vào khoảng từ 0,1% – 1,2%.

            Năm 1963, Maheshwari nghiên cứu việc tách phân đoạn ở nhiệt độ thấp tinh dầu trầm hương, mà trước đây đã được thực hiện bằng việc trích bằng dung môi ở nhiệt độ phòng từ một số loại gỗ đã bị nhiễm nấm có nguồn gốc từ Ấn Độ. Sau đó, kết hợp giữa sắc ký khí và sắc ký cột, nhóm nghiên cứu này đã kết luận rằng họ đã tổng hợp được ba hợp chất furanosesquiterpen mới, thuộc nhóm selinan. 
            Ngoài ra vào năm 1984, nhóm nghiên cứu của Nakanishi đã thực hiện việc so sánh thành phần hóa học của 2 loại tinh dầu trầm hương: Aquilaria agallocha Roxb. (nguồn gốc tại Việt Nam); Aquilaria malaccensis (nguồn gốc từ Indonesia) bằng phương pháp GC/MS; thu được kết quả như sau:

 

 

Hợp chất

Aquilaria agallocha Roxb.

Aquilaria malaccensis

b-Agarofuran

0,6

-

a-Agarofuran

-

1,3

Nor-cetoagarofuran

0,6

-

10-Epi-g-eudesmol

-

6,2

Agarospirol

4,7

-

Jinkohol

-

5,2

Jinkohol-eremol

4,0

3,7

Kusunol

2,9

3,4

Dihidrokaranon

2,4

-

Jinkohol II

2,4

-

Oxo-agarospirol

-

5,6

           

 Khoảng 5 năm sau, năm 1988, nhóm nghiên cứu của Xu đã tìm ra được thêm một số sesquiterpenoid trong tinh dầu của loài trầm có nguồn gốc từ Trung Quốc (Aquilaria sinensis) bằng cách tách các hợp chất bằng sắc ký cột, rồi đem phân tích bằng phổ IR, NMR và MS, thu được các hợp chất như sau:

 Vào năm 1993, nhóm nghiên cứu của Ishihara đã tiến hành chưng cất thử một mẫu gỗ Trầm hương lấy từ Ấn Độ và thu được kết quả như sau:

 

STT

Hợp chất

% GC/MS

01

2-(2-(4-Metoxiphenil) etil) chromon

27,0

02

2-(2-Pheniletil) chromon

15,0

03

Oxo-agarospirol

5,0

04

9,11-Eremophiladien-8-on

3,0

05

6-Metoxi-2-(2-(4-metoxiphenil)etil) chromon

2,5

06

Guaia-1(10),11-dien-15-al

1,5

07

Selina-3,11-dien-ol

1,5

08

Kusunol

1,4

09

Selina-2,11-dien-14-ol

1,0

10

Acid guaia-1(10),11-dien-15-oic

1,0

11

Selina-3,11-dien-9-on

0,8

12

Jinko-eremol

0,7

13

Selina-4,11-dien-14-al

0,7

14

Dihidrokaranon

0,7

15

Selina-3,11-dien-14-al

0,6

16

Acid 2-hidroxiguaia-1(10),11-dien-15-oic

0,4

17

b-Agarofural

0,4

18

Guaia-1(10),11-dien-15-ol

0,3

19

Guaia-1(10),11-dien-15,2-olide

0,3

20

Acid selina-3,11-dien-14-oic

0,3

21

Nor-cetoagarofuran

0,2

22

Agarospirol

0,2

23

Sinenofuranol

0,2

24

Acid selina-4,11-dien-14-oic

0,2

25

Acid 9-hidroxiselina-4,11-dien-14-oic

0,2

26

Dehidrojinkoh-eremol

0,2

27

Rotundon

0,1

28

a­-Bulnesen

0,1

29

Karanon

0,1

30

a­-Guaien

0,1

31

Oxid bulnesen

0,1

32

Guaia-1(10),11-dien-9-on

0,1

33

1,5-Epoxi-norcetoguaien

0,1

 

Sau đó nhóm nghiên cứu này so sánh thành phần hóa học của bốn loại tinh dầu được trích ra từ 4 loại gỗ Trầm hương thu từ các nguồn khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam; tất cả các mẫu tinh dầu thu được khi được phân tích bằng phổ GC/MS đều cho thấy chúng có chứa rất nhiều các sesquiterpen và chromon và được trình bày trong bảng dưới đây:

 

 

STT

 

Hợp chất

 

 

% GC/MS

 

I

II

III

IV

01

a-Guaien

0,1

0,1

<0,05

-

02

b-Agarofuran

0,3

0,2

0,1

0,8

03

a-Bulnesen

0,2

0,2

<0,05

-

04

Nor-cetoagarofuran

0,1

0,1

0,1

0,4

05

1,10-Epoxi bulnesen

0,1

<0,05

-

-

06

1,5-Epoxi-nor-cetoguaien

0,1

<0,05

-

-

07

Agarospirol

<0,05

<0,05

0,1

0,7

08

Jinkoh-eremol

0,4

0,7

0,8

1,0

09

Kusunol

1,7

1,0

1,0

1,8

10

Dehidrojinkoh-eremol

<0,05

<0,05

0,1

0,3

11

Selina-3,11-dien-9-on

0,9

2,1

0,2

-

12

Routundon

0,2

0,1

-

-

13

Selina-3,11-dien-14-al

1,2

2,8

0,4

-

14

9,11-Eremophiladien-8-on

0,7

0,6

0,8

0,4

15

Selina-3,11-dien-14-ol

1,1

1,2

0,3

8,1

16

Guaia-1(10),11-dien-9-on

1,2

1,5

0,4

<0,05

17

Selina-4,11-dien-14-al

0,1

<0,05

-

-

18

Guaia-1(10),11-dien-15-ol

0,8

0,6

0,4

0,2

19

Sinenofuranol

0,6

1,2

-

-

20

Dihidrokaranon

-

-

0,2

0,8

21

Guaia-1(10),11-dien-15-al

1,0

0,7

0,2

2,6

22

Karanon

3,4

2,5

0,4

-

23

Oxo-agarospirol

0,1

0,1

<0,05

0,3

24

Guaia-1(10),11-dien-15,2-olide

1,6

1,4

5,3

11,6

25

Acid selina-4,11-dien-14-oic

0,5

0,5

0,2

-

26

Acid selina-3,11-dien-14-oic

0,6

-

-

-

27

Acid guaia-1(10),11-dien-15-oic

0,9

0,2

-

-

28

Acid 2-hidroxiguaia-1(10),11-dien-15-oic

4,7

<0,05

-

-

29

Acid 9-hidroxiselina-4,11-dien-14-oic

1,8

0,3

-

-

30

2-(2-Pheniletil) chromon

0,8

<0,05

-

-

31

2-(2-(4-Metoxiphenil)etil) chromon

16,1

17,2

23,6

0,3

32

6-Metoxi-2(2-(4-metoxiphenil)etil) chromon

21,2

24,5

33,0

0,7

33

Selina-3,11-dien-9-ol

2,0

3,2

3,7

0,3

 

I = Kanankoh (Ryoku-yu) ex. VietNam (A. agallocha)

II = Kanankoh (Cha-yu) ex. VietNam (A. agallocha)

III = Kanankoh (Murasaki) ex. VietNam (A. agallocha)

IV = Jinkoh (Bateikei) ex. VietNam (A. sinensis)

 

            Nhận xét: Hàm lượng các chất dễ bay hơi từ mỗi mẫu tinh dầu thu được ở trên là: - mẫu I (41%), - mẫu II (45%), - mẫu III (34%), - mẫu IV (2,7%). Hàm lượng các chất không bay hơi (bao gồm các dẫn xuất của chromon) của các mẫu I – III từ 57,3–70,5%, còn trong mẫu IV thì chỉ vào khoảng 14,8%.

            Ngoài ra, thành phần chính của các mẫu cây từ I – III còn được chia làm 2 nhóm như sau:        

            - Thành phần sesquiterpen chính của các mẫu tinh dầu I và II là: guaia-1(10)-dien15-al; guaia-1(10),11-dien-15,2-olide; selina-3,11-dien-9-on; và selina-3,11-dien-9-ol.

            - Thành phần sesquiterpen chính của mẫu tinh dầu III là oxo-agarospirol.

            Không những thế, nhóm nghiên cứu này còn tiến hành việc so sánh thành phần hóa học của các mẫu cây khi bị đốt cháy, bằng cách đốt các mẫu cây thu được (mẫu I và IV) trong một hệ thống kính, nhiệt độ đốt cháy khoảng 180–210oC. Thu lấy hơi khói bằng cách trích với dietil eter, đem phân tích bằng máy GC/MS, thu được kết quả như sau:

 

 

 

STT

 

 

Hợp chất

 

%GC/MS

 

Kanankoh

(Ryoku-ku)

Jinkoh

(Bateikei)

01

Acid acetic

3,97

2,76

02

Acid propionic

0,14

0,18

03

Toluen

0,12

0,19

04

Furfural

0,72

2,79

05

Alcol furfuryl

0,32

0,11

06

Anisole

<0,05

0,26

07

Benzaldehid

0,57

3,53

08

Phenol

0,29

0,98

09

p-Metilanisole

<0,05

1,47

10

Acetophenon

<0,05

0,37

11

Guaiacol

0,21

1,02

12

p-Metoxiphenol

<0,05

0,79

13

p-Vinilphenol

<0,05

1,22

14

Benzilaceton

0,24

2,36

15

Anisaldehid

0,26

3,29

16

p-Vinilguaiacol

0,20

0,46

17

3,4-Dimetoxiphenol

0,42

2,72

18

Vanilin

0,38

0,56

19

a-Guaien

<0,05

-

20

p-Metoxibenzilaceton

0,16

2,37

21

b-Agarofuran

1,36

2,75

22

a-Bulnesen

0,33

-

23

Nor-cetoagarofuran

0,25

0,97

24

4-Hidroxi-3,5-dimetoxibenzaldehid

-

1,02

25

Agarospirol

0,13

<0,05

26

4-(4-Hidroxi-3-metoxiphenil)-2-butanon

-

1,88

27

Jinkoh-eremol

1,02

<0,05

28

Kusunol

3,00

0,93

29

Dehidrojinkoh-eremol

<0,05

<0,05

30

Selina-3,11-dien-9-on

1,99

-

31

Selina-3,11-dien-9-ol

1,78

-

32

Selina-3,11-dien-14-al

0,31

1,40

33

9,11-Eremophiladien-8-on

0,31

2,67

34

Selina-3,11-dien-14-ol

0,64

0,50

35

Selina-4,11-dien-14-al

0,41

0,39

36

Guaia-1(10),11-dien-15-ol

0,65

-

37

Sinenofuranol

-

0,37

38

Dihidrokaranon

1,37

4,73

39

Guaia-1(10),11-dien-15-al

2,30

-

40

Karanon

Vết

1,36

41

Oxo-agarospirol

4,54

3,04

42

Guaia-1(10),11-dien-15,2-olide

1,68

-

43

Acid selina-4,11-dien-14-oic

1,32

-

44

Acid selina-3,11-dien-14-oic

1,02

-

45

Acid guaia-1(10),11-dien-15-oic

9,92

-

46

Acid palmitic

1,42

-

47

Acid 2-hidroxiguaia-1(10),11-dien-15-oic

4,23

-

48

Acid 9-hidroxiselina-4,11-dien-14-oic

2,33

-

49

Acid linoleic

0,46

-

50

Acid oleic

0,87

-

51

Acid stearic

0,35

-

52

2-(2-Pheniletil) chromon

5,83

0,28

53

2-(2-(4-metoxiphenil)etil) chromon

1,59

-

 

            Và gần đây nhất là vào năm 1995, nhóm nghiên cứu của Nâf đã tiến hành nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu của một mẫu gỗ tươi (2 năm tuổi) có nguồn gốc từ gỗ trầm ở Ấn Độ (Aquilaria agallocha Roxb.), và thu được các kết quả sau khi đem phân tích mẫu tinh dẫu bằng các phương pháp: GC/MS, 1H-NMR, 13C-NMR, COSY-, HMQC và NOE.

 


STT

Hợp chất

% GC/MS

01

(S)-4a-metil-2-(1-metiletil)-3,4,4a,5,6,7-hexahidronaptalen

0,6

02

b-Agarofuran

6,4

03

b-Vetispiren

1,4

04

4-Phenil-2-butanon

3,5

05

a-Vetispiren

1,8

06

(1R,2R)-9-isopropil-2-metil-8-oxatriciclo[7.2.1.01,6]-4,6-dodecadien

6,6

07

(1R,2R)-9-isopropil-2-metil-8-oxatriciclo[7.2.1.01,6]-5-dodecen

3,3

08

(2R,4aS)-2-(4a-metil-1,2,3,4,4a,5,6,7-octahidro-2-naptil)propanol

0,7

09

Nor-cetoagarofuran

0,5

10

Epi-g-eudesmol

3,8

11

2-(1,2,3,5,6,7,8,8a-Octahidro-8,8a-dimetil-2-naptil)propanal

0,5

12

Agarospirol

4,8

13

Jinkoh-eremol

4,7

14

Valerianol

5,6

15

(1S,2S,6S,9R)-6,10,10-trimetil-11-oxatriciclo[7.2.1.01,6]dodecan-2-carbaldehid

0,9

16

4-(4-Metoxiphenil)-2-butanon

2,4

17

(5R,10R)-2-isopropiliden-10-metil-spiro[4.5]-6-decen-6-carbaldehid

1,1

18

(2R,8S,8aS)-2-(1,2,6,7,8,8a-hexahidro-8,8a-dimetil-2-naptil)-2-propanol

4,4

19

(5R,7S,10R)-2-isopropiliden-10-metil-6-metilen-spiro[4.5]-7-decanol

0,6

20

Dihidrokaranon

6,6

21

(2R,8R,8aS)-2-(1,2,3,5,6,7,8,8a-octahidro-8,8a-dimetil-2-naptil)-2-propenol

2,7

22

Karanon

2,2

 

XI.  SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN QUỐC TẾ:

            Trầm hương là sản phẩm đặc biệt của tự nhiên, trên thế giới Trầm luôn là loại hàng quý, hiếm và đắt giá. Giá mua bán Trầm hương được tính theo kg tùy thuộc vào chất lượng. Giá bán Trầm tại thị trường Dubai (Arabia Saudi) vào năm 1993 thay đổi từ 27 đô la Mỹ/kg (loại thấp nhất) đến 10.000 đô la Mỹ/kg (loại tốt nhất). Trong năm 1996, trên thị trường Malaysia, 1 kg Trầm hương loại tạp được bán với giá 5 đô la Mỹ; trong khi đó 1 kg Trầm loại đầu bảng có giá 1.000 đô la Mỹ.

            Trên thị trường Anh, tinh dầu trầm hương thương phẩm được mua bán với giá 160 bảng Anh/2,5 mL (khoảng 64.000 bảng Anh 1kg tinh dầu trầm).

            Malaysia là nước khai thác và xuất khẩu nhiều gỗ trầm hương nhất. Năm 1991, lượng trầm hương xuất khẩu của Malaysia chiếm 25% tổng lượng trầm hương nhập khẩu của các nước Arập, trị giá chừng 2,25 triệu đô la Mỹ.

            Nước thứ hai xuất khẩu Trầm hương sau Malaysia là Singapo (khoảng 2,1 triệu đô la Mỹ). Tiếp đến là Indonesia, Thái Lan và Ấn Độ. Hoa Kỳ cũng là thị trường tiêu thụ Trầm hương với khối lượng đáng kể. Năm 1985, khối lượng trầm hương mà Hoa Kỳ đã nhập khẩu là 66.000 kg; đến năm 1990 chỉ nhập được khoảng 28.000 kg và đến năm 1994 cũng nhập được 31.000 kg.

            Do chạy theo lợi nhuận, trong nhiều năm qua Trầm hương của nước ta bị khai thác kiệt quệ để xuất khẩu, chỉ còn sót lại lẻ tẻ một số rất ít cây non. Theo ước tính của Liên hiệp Khoa học sản xuất tinh dầu – hương liệu – mỹ phẩm Việt Nam thì trong những năm từ 1980 đến 1990, khối lượng Trầm hương các loại đã bị khai thác và xuất khẩu từ nước ta cũng vào khoảng 300 tấn. Trong đó có 2.000 kg Trầm từ loại 1 – 4, trị giá chừng 1,5 triệu đô la Mỹ và 300.000 kg Trầm loại 5 – 9, trị giá khoảng 4,5 triệu đô la Mỹ; đặc biệt là 200 kg Kỳ nam loại 1 – 3, trị giá 0,5 triệu đô la Mỹ và tới 2.800 kg Kỳ nam loại 4 – 8, trị giá 2,52 triệu đô la Mỹ.

 

XII.  CÔNG DỤNG:

            Trầm là một sản phẩm đặc biệt, nổi tiếng, quý, hiếm; do có chứa nhựa dầu được tạo thành trong lõi, gỗ của những cây già hay cây bị bệnh. Các loài Trầm hương – A. crassna (phân bố ở Đông Dương), A. malaccensis (phân bố từ Ấn Độ đến Đông Nam Á) và A. sinensis (Lour.) (sinh trưởng ở miền Nam Trung Quốc) đều là nguồn cung cấp trầm có giá trị và quan trọng nhất của chi Trầm.

            Trên thị trường rất khó phân biệt sản phẩm trầm từ 3 loài này, và thực tế chung cùng có tên gọi chung là “trầm” và cùng được sử dụng tương tự nhau.

            Hương thơm hấp dẫn của Trầm khi cháy đã được đánh giá rất cao ở nước ta, Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều nước Châu Á từ hàng ngàn năm trước đây. Trầm được sử dụng là hương thắp trong các dịp lễ hội của các tín đồ đạo Phật, đạo Khổng và đạo Hinđu… ở khắp các nước Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á. Tại Thái Lan, Trầm được sử dụng khi hoả táng thi hài người chết. Còn ở Nhật Bản, hương trầm lại rất được coi trọng trong các dịp lễ hội uống chè. Các vua quan phong kiến nước ta từ xưa đã dùng Trầm làm vật phẩm để cúng tiến.

            Tinh dầu trầm có giá trị đặc biệt, được dùng trong công nghệ chế biến các loại chất thơm, các loại nước hoa cao cấp, đắt tiền. Mùi của trầm vừa phản phất mùi của tinh dầu đinh hương, vừa có mùi thơm của hoa hồng. Các hoá mỹ phẩm có chứa tinh dầu trầm rất được ưa chuộng, đặc biệt ở khu vực Trung Đông và Ấn Độ.

            Lớp vỏ trong ánh bạc ở thân cây có thể bóc được từng mảng lớn, phẳng và bền. Đây cũng là sản phẩm quý mà trước đây các tín đồ tôn giáo ở Ấn Độ, Sumatra (Indonesia) đã dùng làm giấy sao chép kinh thánh hoặc may các bộ quần áo sang trọng và gói bọc thi hài.

            Trong y học cổ truyền ở nước ta, Trầm hương được coi là vị thuốc quý,  hiếm, có vị cay, tính hơi ôn, vào 3 kinh tỳ, vị và thận; có tác dụng giáng khí, nạp thận, bình can, tráng nguyên dương; được dùng chủ yếu để chữa các bệnh đau ngực, bụng, nôn mửa, bổ dạ dãy, hen suyễn, lợi tiểu, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu và khó thở.

            Trong y học ở phương Tây, ở Ấn Độ và Trung Quốc, hương trầm được sử dụng để điều trị bệnh ung thư, đặc biệt là với bệnh ung thư tuyến giáp trạng.

            Y học cổ truyền Trung Quốc coi Trầm là vị thuốc có tác dụng chữa các bệnh đau bụng, tiêu chảy, hoen suyễn, kích dục, tráng dương và tiêu hoá tốt.

            Nền y học dân tộc Thái Lan lại dùng Trầm để điều trị các bệnh tiêu chảy, lợi tiểu, hạ sốt, chống nôn, bổ huyết và trợ tim.

            Hương trầm được dùng để thắp xua muỗi và côn trùng có hại.

            Dăm gỗ trầm cũng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là chữa bệnh thấp khớp, bệnh đậu mùa, bệnh đau bụng và dùng cho phụ nữ sau khi sinh con.

            Nước sắc từ gỗ trầm nghe nói là có tác dụng kháng khuẩn, đặc biệt là với các loại khuẩn Mycobacterium tuberculosisShigella flexneri.

            Gỗ từ những cây trầm hương không bị bệnh thường nhẹ, có thể dùng là đóng gỗ, làm gỗ dán và làm cánh cửa ở trường hợp chịu tải nhẹ.

 

 

Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2014  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM