| Phạm Thị Lan, Võ Văn Long, Nguyễn Thị Lệ Thủy, Nguyễn Thị Bích Hồng, Lưu Quốc Thắng, Ngô Thị Kiều Dương, Hà Văn Hân, Bùi Văn Nhân, Đặng Kim Thanh, Phạm Phú Thịnh.
I. Giới thiệu. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 180.000 ha dừa tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB), với 2 nhóm chính là nhóm giống dừa cao và nhóm giống dừa lùn. Nhóm dừa cao (Tall coconut) như Ta, Dâu, Lửa, Sáp, Bị, Bung..., có đặc tính chung là thụ phấn chéo, cây cao (có thể cao đến 20-30m), có hàm lượng dầu cao (60-65%), thích hợp cho công nghiệp chế biến, ra hoa muộn (từ 5-8 năm tùy theo chế độ chăm sóc và điều kiện sinh thái của từng vùng), nhưng chu kỳ khai thác dài (từ 60-70 năm). Nhóm dừa lùn (Dwarf coconut) gồm có Xiêm, Ẻo, Tam Quan, Dứa..., có đặc tính chung là tự thụ phấn, thân cây thấp (tối đa từ 10m -12 m), ra hoa sớm (từ 3-4 năm), chu kỳ khai thác ngắn (từ 30-40 năm), thích hợp cho mục đích uống nước. Công tác chọn tạo giống dừa trên thế giới nói chung theo xu hướng sản xuất các giống dừa có ưu thế lai, chủ yếu là lai tạo giữa giống dừa lùn và giống dừa cao (Rolando C., Carlos O., Daniel Z, 1998). Các giống dừa lai này cho năng suất cao hơn so với bố mẹ của chúng, do sự bổ sung của các yếu tố về năng suất và khả năng ưu thế lai (Harries, 1991). Inđônesia là nước có diện tích trồng dừa lớn nhất thế giới, với tổng diện tích dừa 3.800.000 ha, trong đó dừa lai chiếm 10% và diện tích này đang tăng lên. Philipipines là nước đứng vị trí thứ 2 về diện tích trồng dừa trên thế giới (3.500.000 ha), nhờ vào việc thay đổi cơ cấu giống dừa và thay thế các vườn dừa lão năng suất thấp bằng các giống dừa lai có năng suất cao (từ 3-4 tấn cơm dừa khô/ha/năm), đã góp phần nâng sản lượng dừa Quốc gia lên gấp 2-3 lần. Công tác chọn, tạo giống dừa ở Việt nam ngày càng được quan tâm, phát triển, bên cạnh nhiệm vụ sưu tập, bình tuyển, chọn lựa những giống dừa tốt của địa phương, còn nghiên cứu lai tạo ra nhiều giống dừa lai thích hợp. Tính đến nay Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu đã lai tạo và khảo nghiệm được trên 20 giống dừa lai, trong đó có 13 giống đã được trồng khảo nghiệm nhiều nơi tại ĐBSCL và DHNTB. 1. PB 121 : Lùn vàng Malaysia x Cao Tây Phi 2. JVA1 : Lùn vàng Malaysia x Cao HIJO. 3. JVA2 : Lùn đỏ Malaysia x Cao HIJO. 4. PCA 15-1 : Lùn xanh Catigan x Cao Laguna. 5. PCA 15-2 : Lùn đỏ Malaysia x Cao Tagnanan. 6. PCA 15-3 : Lùn đỏ Malaysia x Cao Baybay. 7. BTh 1 : Lùn vàng Malaysia x Cao Palu (Inđônesia). 8. BTh 2 : Lùn vàng Malaysia x Ta (Việt Nam) 9. Đồng Gò 1 : Ẻo x Ta xanh. 10. Đồng Gò 2 : Tam Quan x Ta xanh. 11. Đồng Gò 3 : Lùn đỏ Sri Lanka x Cao Tây Phi. 12. Đồng Gò 4 : Lùn vàng Sri Lanka x Cao Tây Phi. 13. Đồng Gò 5 : Lùn vàng Ghana x Cao HIJO. Trong đó, giống dừa lai PB121 đã được Bộ NN & PTNT cho khu vực hóa năm 1999, giống lai này cho năng suất cao, hàm lượng dầu cao, rất thích hợp cho công nghiệp chế biến các sản phẩm từ cơm dừa. Tuy nhiên giống lai PB121 có mặt hạn chế là: trái nhỏ nên khi bán trái khô dễ bị tư thương ép giá. Để khắc phục điều này, Viện đã lai tạo, khảo nghiệm, đưa ra sản xuất 2 giống lai mới là JVA1 và JVA2, có năng suất cao, hàm lượng dầu cao, dạng trái tròn trung bình, được thị trường chấp nhận và đã được Bộ NN & PTNT cho công nhận giống tạm thời cung cấp cho sản xuất vào 4/2004. Các giống còn lại đang được khảo nghiệm tại các tỉnh ĐBSCL và DHNTB, bước đầu cho kết quả tốt. II. Xuất xứ của 3 giống lai JVA1, JVA 2 và PCA15-2. + Giống lai JVA1: được lai tạo giữa lùn vàng Malaysia x Cao HJJO. + Giống lai JVA2: được lai tạo giữa lùn đỏ Malaysia x Cao HJJO. + Giống lai PCA15-2: được lai tạo giữa Lùn đỏ Malaysia x Cao Tagnanan * Giống dừa Lùn vàng Malaysia : thuộc nhóm dừa lùn, có nguồn gốc từ Malaysia, hầu hết các bộ phận trên cây từ lá, hoa, trái, đều có màu vàng rơm, thân cây thấp (tối đa từ 10 –15 m), ra hoa sớm (sau 3 năm trồng), năng suất cao (từ 200-300 trái/cây/năm), nhưng có một số hạn chế như hàm lượng dầu thấp, chất lượng cơm dừa khô kém, thích nghi kém với điều kiện bất thuận của môi trường. * Giống dừa Lùn đỏ Malaysia: Bên cạnh một số đặc diểm như chiều cao thân, năng suất trái/cây, thời gian ra hoa, chu kỳ khai thác..., cơ bản giống như lùn vàng Malaysia, chỉ khác là các bộ phận trên cây từ lá, hoa, trái, đều có màu vàng sậm, khi quày trái còn non có màu hồng đỏ trông rất đẹp. * Giống dừa Cao HIJO: Còn gọi là Cao Bago-Oshiro, vì có nguồn gốc tại tỉnh Bago Oshiro – Philippines, khả năng sinh trưởng, phát triển mạnh, cơm dày, hàm lượng dầu cao (65-68 %), có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận của môi trường. * Giống dừa Cao Tagnanan, có xuất sứ từ Philippines, có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh, cơm dày, hàm lượng dầu cao, được Ủy ban Quốc gia cây dừa Philipines (PCA) chọn làm cây bố trong nhiều tổ hợp dừa lai. III. Kết quả khảo nghiệm giống dừa lai JVA 1 và JVA 2 tại Việt Nam. Năm 1987, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu đã nhập trái dừa lai JVA1 và JVA2 về ươm và trồng khảo nghiệm tại Bến Tre thấy có kết quả tốt, sau đó Viện đã chủ động lai tạo 2 giống lai này, đem trồng khảo nghiệm để so sánh với giống dừa Ta (là giống dừa lấy dầu chủ yếu của Việt Nam hiện nay) tại một số điểm ở ĐBSCL. Kết quả khảo nghiệm cho thấy 2 giống lai này có những ưu điểm nổi bật như sau: 1. Sinh trưởng mạnh: tổng số lá xanh/cây, chu vi gốc, chiều dài lá... của 2 giống lai JVA 1 và JVA 2 đều cao hơn so với giống dừa Ta địa phương từ năm thứ 2 sau khi trồng. 2. Ra hoa sớm: 3- 4 năm sau trồng, tùy theo điều kiện sinh thái và mức độ chăm sóc của từng vùng. 3. Năng suất cao: Năng suất cơm dừa khô của gống JVA1 gấp 1,7 lần so với giống dừa Ta và giống JVA 2 gấp 1,6 lần so với dừa Ta trong cùng thời gian, cùng điều kiện sinh thái và chế độ chăm sóc. 4. Hàm lượng dầu cao: Giống JVA 2 (65,81 %), giống JVA1 (65,50 %), trong khi đó giống dừa Ta chỉ đạt 63,51% trong cùng trong cùng thời gian, cùng điều kiện sinh thái và chế độ chăm sóc. 5. Một số đặc điểm của trái phù hợp: Kích thước trái trung bình, dạng trái hơi tròn, vỏ không dầy, được nông dân ưa thích và thị trường chấp nhận. 6. Tình hình sâu bệnh: chưa phát hiện thấy loài sâu bệnh lạ nào trên 2 giống dừa lai JVA 1 và JVA 2. Ngoài ra, trên một số điểm thí nghiệm, chúng tôi còn nhận thấy các giống lai có khả năng chống chịu sâu bệnh và diều kiện bất thuận của môi trường khá hơn. Đây là 2 giống dừa lai năng suất cao rấp thích hợp cho vùng trồng dừa ĐBSCL để phát triển nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến dừa. IV. Giống dừa lai tiềm năng PCA15-2: Ngoài ra, giống lai PCA15-2 qua khảo nghiệm đã có nhiều triển vọng, sau 4 năm trồng tại vùng đất phèn Kiên Giang đã ra hoa kết trái. Tại vùng đất cát DHNTB (Phú Yên, Bình Định), giống lai PCA15-2, trong 4 năm đầu cũng tỏ ra sinh trưởng tốt hơn giống PB121. Đặc điểm quan trọng là PCA15-2 cho trái có kích thước trung bình đến to (gần bằng trái dừa Ta), dể bán, được người trồng dừa ưa thích. Trong thời gian tới Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu sẽ sản xuất giống dừa lai này để cung cấp cho nông dân sau khi hoàn tất giai đoạn khảo nghiệm và được Nhà nước công nhận giống./. |