Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Hai Giống Đậu Tương VDN1 Và VDN3 Đưa Vào Sản Xuất Ở Vùng Đông Nam Bộ
Hai Giong Dau Tuong Vdn1 Va Vdn3 Dua Vao San Xuat O Vung Dong Nam Bo
Nguyễn Văn Minh và Ngô Thị Lam Giang

Đậu tương là cây trồng truyền thống ở nước ta. Với thành phần hóa học chứa 38-45% prôtein , 18 – 23% lipit, đậu tương được sử dụng làm thức ăn giàu đạm và chất béo cho người, chế biến thức ăn gia súc và cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến dầu thực vật ở nước ta.

Ở Việt Nam hiện nay cây đậu tương được gieo trồng ở 43/62 tỉnh, thành phố, thuộc 7 vùng sinh thái nông nghiệp. Những năm gần đây do tập quán canh tác và đặc biệt là do năng suất đậu tương đạt thấp, hiệu quả kinh tế sản xuất đậu tương không cao cho nên đậu tương chưa được chú ý phát triển ở cả nước, nhất là các tỉnh phía Nam. Do sản lượng đậu tương sản xuất hằng năm không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước dẫn đến tình trạng hàng năm nước ta phải nhập khoảng 400-500.000 tấn đậu tương để chế biến dầu ăn và thức ăn chăn nuôi.

Trong những năm gần với tiến bộ kỹ thuật về công tác tạo giống đậu tương cho năng suất cao, có thời gian sinh trưởng ngắn, thích hợp với các cơ cấu xen canh, tăng vụ, có khả năng thích ứng với nhiều vùng sinh thái… đã làm cho sản xuất đậu tương từng bước phát triễn và đạt hiệu quả kinh tế khá so với một số cây trồng ngắn ngày khác.

Xuất phát từ thực tế trên Viện nghiên cứu dầu thực vật đã từng bước nghiên cứu chọn tạo giống và bước đầu đưa ra hai giống đậu tương thích nghi với điều kiện sinh thái vùng Đông Nam bộ đạt năng suất, sản lượng và hàm lượng dầu trong hạt khá cao.

Qua kết quả khảo nghiệm giống đậu tương VDN1 và VDN3 tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh vào các vụ Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông từ năm 1998 – 2002 tại các điểm khảo nghiệm và trên các ruộng nông dân tại các vùng trồng đậu tương lớn cho thấy hai giống này đã thích nghi và được trồng trên diện rộng. Với chất lượng hạt vàng đậm, lớn, không nứt vỏ giúp hạt có giá trị thương mại cao.

Ngoài ra, hai giống đậu tương này có hàm lượng dầu trong hạt khá cao (22,32 – 23,68%) có thể là giống đậu nành dùng trích ly dầu ăn tốt. Hàm lượng protein của hai giống khá cao (37,36 – 38,09%) trong đó thành phần acid amin quan trọng như acid Oleic và Linoleic cao (78,62 – 78,63%), tạo nên giá trị dinh dưỡng tốt cho đậu tương dùng làm thực phẩm.

Qua kết quả khảo nghiệm và so sánh các giống đậu tương thu thập trong nước và các giống nhập nội từ năm 1998 đến 2002 cho thấy giống đậu tương VDN1 và VDN3 đã thích nghi với nhiều điều kiện sinh thái ở vùng Đông Nam bộ, cho năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt và được Hội đồng Khoa học kỹ thuật - Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận là giống Khu vực hoá vùng Đông Nam bộ năm 2002 và 2004./.
Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2014  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM