Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA CÂY CỌ DẦU TRỒNG Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

Ket Qua Nghien Cuu Kha Nang Thich Nghi Cua Cay Co Dau Trong O Mien Nam Viet Nam

Ks. Lưu Quốc Thắng, Nhóm nghiên cứu cây cọ dầu

 

1. Mở đầu

Cây cọ dầu (Eleais guineensis Jacq.) là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao do năng suất dầu cao hơn so với các loại cây có dầu khác. Năng suất cọ dầu bình quân hiện nay ở Malaysia, nước trồng nhiều cọ dầu nhất thế giới là 4-5 tấn dầu/ha. Từ quả cọ ta có được dầu cọ (palm oil) ép từ phần thịt quả (mesocap)và dầu nhân cọ (palm kernel oil) ép ra từ phần nhân (kernel). Cây cọ dầu là cây khá mới mẻ với nước ta. Nó cần được trồng tập trung và đi đôi với chế biến, do đó, đòi hỏi phải qui họach và tổ chức sản xuất một cách khoa học.

Ở Việt Nam, từ năm 1978 cây cọ dầu đã được trồng rải rác ở các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Bình Định, Khánh Hòa, Đồng Nai cho thấy cây cọ dầu cũng sinh trưởng phát triển, ra hoa kết quả nhưng năng suất thấp vì không được chăm sóc đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn chưa ai có thể trả lời được với điều kiện trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật cây cọ dầu ở Việt Nam sẽ cho năng suất bao nhiêu, hiệu quả kinh tế như thế nào. Để trả lời cây hỏi này, từ năm 1986 Nhà nước đã giao cho Viện nghiên cứu dầu thực vật (OPI) triển khai đề tài ”Nghiên cứu khả năng thích nghi của cọ dầu ở các tỉnh phía Nam“ làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch và phát triển cọ dầu tại Việt Nam.

Năm 1986, ở miền Nam đã trồng khoảng 650 ha cọ dầu tại Gia An, tỉnh Đồng Nai (thuộc Công ty Dầu thực vật Đồng Nai) để khai thác dầu. Viện Nghiên cứu dầu và cây có dầu cũng đã tiến hành trồng khảo nghiệm khả năng thích nghi của cây cọ dầu trên các vùng sinh thái: vùng phèn mặn Bình Khánh và Đỗ Hòa (huyện Cần Giờ, tp. Hồ Chí Minh), vùng đất phù sa cổ Mộc Hóa (tỉnh Long An), vùng đất xám bạc màu Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai), vùng đất phèn Nước Mục (huyện Bến Lức, tỉnh Long An), vùng đất phèn nhiễm mặn nhẹ Thủ Đức (tp. Hồ Chí Minh) và vùng đất cát ven biển (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định). Mỗi điểm khảo nghiệm có quy mô từ 1 – 2 ha với giống cọ dầu Tenera C và D: C0101, C7001, C7128, C2101 và D1439 được nhập từ Pháp, ươm ở Nông trường Cọ dầu Gia An (Xuân Lộc, Đồng Nai), cây con được bố trí trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như đã kể ở trên.

2. Đặc điểm sinh thái các vùng thí nghiệm

2.1. Vùng phèn mặn Bình Khánh, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh

Yếu tố hạn chế chủ yếu độ mặn, tổng muối tan trong đất từ 1,56 % - 4,33 %, độ mặn nước 1,5 %, tỷ lệ cây bị cháy lá 100 % với chỉ số cháy lá 86,44 %, các cây bị cháy lá không phát triển được trong mùa khô.

2.2. Vùng phèn mặn Đỗ Hòa, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh

Đất sét pha, đạm và lân tổng số cao, kali tổng số trung bình, tổng muối tan trong đất từ 1,7 % - 3,2 %, SO4 2- trong đất 1,74 %, độ mặn nước vào mùa khô lên đến 14- 19 mS/cm. Thủy cấp mùa khô biến động: 100 cm-120 cm, mùa mưa biến động 25-50 cm.Yếu tố hạn chế là đất bị nhiễm phèn và mặn. Cây sinh trưởng kém dù có đầy đủ nước và phân bón.

2.3. Vùng đất phù sa cổ Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Đất cát pha nghèo dưỡng liệu: nghèo mùn, Ca2+ Mg2+ thấp, C/N thấp, pH = 4,7. Thủy cấp mùa khô biến động 300 cm, mùa mưa biến động 100 cm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 dến tháng 4, nhiệt độ trung bình 27oC, vũ lượng trung bình: 1.606 mm /năm, nhiệt độ trung bình 25,5 - 29,1 0C. Yếu tố hạn chế là hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp và thủy cấp sâu vào mùa khô. Với 6 tháng mùa khô lượng nước thiếu hàng năm lên đến 750 mm, cây sinh trưởng kém.

2.4. Vùng đất xám bạc màu Xuân Lộc, Đồng Nai

Đất nghèo dưỡng liệu, đặc biệt là lân và kali, nghèo caxi, mùn thấp, pH = 5,2. Thủy cấp mùa khô biến động 400 cm – 500 cm, mùa mưa biến động 100 cm. Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 dến tháng 5, nhiệt độ trung bình 24,5oC - 29,1 oC. lượng mưa trung bình 1.654 mm /năm. Yếu tố hạn chế là đất cát nghèo dinh dưỡng, thủy cấp vào mùa khô sâu hơn 100 cm,  cây sinh trưởng chậm vào mùa khô. Để có được năng suất cao phải có biện pháp canh tác hợp lý, tưới nước trong mùa khô và áp dụng các biện pháp thâm canh, thu hoạch đúng kỹ thuật.

2.5. Vùng đất cát ven biển miền Trung (Phù Cát,Tỉnh Bình Định)

Đất nghèo dưỡng liệu, pH= 5,8, N-P-K thấp, Ca2+ thấp, C/N thấp. Thủy cấp mùa khô biến động 200cm-300cm, mùa mưa biến động 100cm. Khí hậu, mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 1 dến tháng 4. lượng mưa trung bình: 1642 mm /năm, nhiệt độ trung bình  22,5 oC -31,2oC. Yếu tố hạn chế là đất cát nghèo dinh dưỡng, cây bị thiếu nước, sinh trưởng kém trong các tháng mùa khô. Để cho cây sinh trưởng tốt cho năng suất cao phải đảm bảo nước tưới trong mùa khô và áp dụng các biện pháp thâm canh.

2.6. Vùng đất phèn nhiễm mặn nhẹ Thủ Đức

Đại diện cho vùng đất phèn nhiễm mặn nhẹ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đất phèn nhiễm mặn nhẹ, giàu đạm, kali dễ tiêu, lân tổng số và lân dễ tiêu trung bình, C/N = 17, pH 3,5-4, đất sét thịt. Thủy cấp mùa khô biến động 90 cm, mùa mưa biến động 50 cm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4, nhiệt độ trung bình 27,5oC - 30,3 oC, lượng mưa trung bình 1.782 mm /năm. Thủy cấp vào mùa khô 80 – 100 cm. Nước được cung cấp đầy đủ trong mùa khô nhờ hệ thống mương liếp, độ mặn nước vào mùa khô 4,6mS/cm, cây sinh trưởng bình thường.

2.7. Vùng đất phèn Nước Mục, Long An

Yếu tố hạn chế là yếu tố phèn, pH=3,5; nghèo dưỡng liệu dễ tiêu: lân, Kali, đạm trung bình ở tầng 0 – 30 cm. Thủy cấp mùa khô biến động 80 cm, mùa mưa biến động 68 cm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 dến tháng 4. Nhiệt độ trung bình 27oC, vũ lượng trung bình 1.494 mm/năm. Số giờ chiếu sáng 2.701 giờ/năm.

3. Tóm tắt kết quả nghiên cứu khả năng thích ứng cọ dầu trên các vùng đất khác nhau.

Bảng 1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu khả năng thích ứng cọ dầu trên

các vùng đất khác nhau.

Vùng thí nghiệm sinh thái

Yếu tố hạn chế

Kết luận

Đất phèn nhiễm mặn Bình Khánh

-       Phèn

-       Mặn (hạn chế chủ đạo)

Không thích hợp

Đất phèn mặn Đỗ Hòa

-       Phèn

-       Mặn

Không thích hợp

Đất phù sa cổ Mộc Hóa

-       Nghèo dinh dưỡng

-       Thủy cấp sâu

Không thích hợp

Đất xám miền Đông Gia An

-       Nghèo dinh dưỡng

-       Thủy cấp sâu

Phải có biện pháp thâm canh.

Đất phèn Nước Mục Long An

-       Phèn

Có khả năng thích hợp

Đất phèn nhiễm mặn nhẹ – Thủ Đức

-       Phèn

-       Mặn (ít)

Có khả năng thích hợp

Đất cát Phù Cát

-       Nghèo dưỡng liệu

-       Thủy cấp sâu

 

Phải có biện pháp thâm canh

4. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển cọ dầu trên đất phèn Đồng bằng sông Cửu Long.

4.1. Chỉ tiêu sinh trưởng 

Số lá mới/năm là chỉ tiêu quan trọng nói lên tốc độ sinh trưởng của cây, phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường, kỹ thuật canh tác và tuổi cây. Số lá mới hình thành nhiều nhất khi cây đạt từ 2 đến 5 tuổi, ổn định từ năm thứ 6 đến năm thứ 14 và giảm dần khi cây đạt 15 đến 16 tuổi. Số lá mới mọc/năm tại điểm thí nghiệm qua các năm chứng tỏ lượng nước thiếu trong mùa khô đã được bù đắp bởi lượng nước trong mương giúp cho cây sinh trưởng tốt.

Bảng 2.  Diện tích lá 17 và số lá xanh của cọ dầu 15 tuổi

                       Chỉ tiêu

Địa điểm

Diện tích lá 17 (m2)

Tổng số lá xanh (lá/ cây)

Nước Mục (Long An)

CV (%)

8,3

2,4

40,4

2,8

Tham khảo với Malaysia

10,2 – 10,5

40 – 50

Diện tích lá 17 là 8,3 m2 và tổng số lá xanh trên cây là 40,4 lá/cây phản ảnh rõ nét khả năng sinh trưởng của cây. Diện tích lá lớn và số lá xanh trên cây nhiều là cơ sở cho việc hình thành nhiều buồng và trọng lượng buồng gia tăng.

4.2. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Bảng 3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất.

Địa điểm

Số buồng/

cây

(buồng)

Trọng lượng trái (g/trái)

Trọng lượng buồng (kg)

Năng suất buồng     (Tấn /ha)

Năng suất dầu         (Tấn /ha)

Nước Mục (Bến Lức)

8,9

11,5

8,6

10,9

2,6

CV (%)

2,3

1,2

1,6

2,1

1,8

Đất cát ven biển Malaysia

6 – 9

13 – 15

19 – 20

6 – 25

4 – 6,4

Đất ốc đảo ở Malaysia

12

16

18

30

7,7

Côte d’Ivoire

16

-

5,6

12,8

3,2

Dahomay

10

-

8

8

2

Qua kết quả bảng 3, nhận thấy: Cọ dầu 15 tuổi có trọng lượng buồng 8,6 kg/buồng. So sánh với cọ dầu cùng lứa tuổi Malaysia trọng lượng buồng đạt từ 18 kg đến 20 kg và Dahomay 8kg/ buồng

Ở đất phèn Nước Mục năng suất buồng đạt 10,9 tấn buồng/ ha tương ứng với 2,6 tấn dầu/ha. Qua các năm, chúng tôi nhận thấy năng suất cọ dầu có xu hướng tăng dần và thích nghi được trong điều kiện có lũ trong thời gian ngắn. Năng suất tuy không bằng Malaysia nhưng tương đương với Côte d’Ivoire và hơn Dahomay, New Bretain.  Trong điều kiện đất phèn, năng suất các cây trồng khác đều thấp, có thể bị mất trắng trong những năm có lũ, trong khi đó trồng cọ dầu trên vùng đất này vẫn mang lại hiệu quả kinh tế hơn so với cây trồng khác (năm 1995 vùng trồng bị lũ nhiều ngày năng suất vẫn đạt 1,4 tấn dầu).

4.3. Thành phần acid béo của dầu cọ

Bảng 4. Thành phần acid béo của dầu cọ trồng ở Việt Nam

       T.phần

      Acid

           béo

       

Địa điểm

Acid.Lauric

(C12)

(%)

Acid.Myristic

(C14)

(%)

Acid.

Palmitic (C16)

(%)

Acid

Stearic (C18)

(%)

Acid

Arachidic (C20) (%)

Acid

Oleic (C18=) (%)

Acid

Linoleic

(C182=)

(%)

Nước Mục Long An

<1

1,1

42,3

6,5

0,3

38,8

10,3

Tham khảo Malaysia

<1

1-6

32-47

1-6

<1

40-52

5,7

 

Bảng 5. Thành phần acid béo của dầu nhân cọ

 

T.phần

      Acid

          béo

 

Địa điểm

Acid

Caprilic

(C8)

 

Acid

Captic

(C10)

 

Acid

Lauric

(C14)

(%)

Acid

Myristic

(C14)

(%)

Acid

Palmitic

(C16)

(%)

Acid

Stearic (18)

(%)

Acid

 

Oleic

(C182 =)

(%)

Acid

Linoleic

(C182=)

(%)

Nước Mục Long An

2,62

2,94

45,93

17,87

9,20

2,36

16,41

2,66

Trong dầu cọ (bảng 4) thành phần acid palmitic và oleic chiếm đa số, còn lại là các acid béo khác. So sánh với hàm lượng một số acid béo của dầu cọ trồng trên đất phèn Nước Mục, Long An với dầu cọ Malaysia thì hàm lượng acid palmitic của điểm thí nghiệm là 42,3 % còn ở Malaysia biến động 32-47 %, hàm lượng acid oleic ở điểm thí nghiệm chiếm 38,8 % thấp hơn so với dầu cọ Malaysia (40 – 52 %). Trong thành phần acid béo của dầu nhân cọ thì hàm lượng acid lauric chiếm đại đa số (45,93 %) (tương tự dầu dừa). Qua phân tích chất lượng dầu chúng tôi nhận thấy dầu cọ Việt Nam trồng trên vùng đất phèn có chất lượng tương đương với dầu cọ Malaysia.  Điều này đã được các chuyên gia cọ dầu ở Viện PORIM (Malaysia) thừa nhận. Ưu thế của Malaysia là lượng mưa nhiều và phân bố đều, trong khi ở Việt Nam tổng lượng mưa không thấp  nhưng lại phân bố không đều, mùa khô kéo dài. Như vậy muốn phát triển cần giải quyết vấn đề nước cho cọ dầu trong mùa khô.

Vùng đất phèn Nước Mục Long An và vùng Đồng bằng sông Cữu Long với kỹ thuật canh tác thích hợp là lên mô, lên liếp để tận dụng đất màu, tầng hữu cơ trên mặt có nhiều dưỡng chất đồng thời giữ được mực nước trong mương ngang tầng sinh phèn, nâng được pH đất lên trên 3,5 cây đủ nước trong mùa khô nhờ nước trong mương cho thấy có khả năng đảm bảo các yêu cầu phát triển của cây cọ dầu.

5. Kết luận

5.1. Cây cọ dầu có khả năng thích nghi và cho năng suất khá khi được trồng ở những vùng sinh thái phù hợp như ở Đồng bằng sông Cữu Long cho năng suất 2,6 tấn dầu/ ha.

5.2. Cây cọ dầu trồng trên vùng đất phèn cho hàm lượng dầu/khối lượng khô 52,25 - 56,06 %, hàm lượng dầu nhân cọ 45 -52 % và có chất lượng dầu (thành phần các acid béo) tương đương với dầu cọ Malaysia.

5.3. Chưa ghi nhận sự xuất hiện của các loại sâu, bệnh hại trên cây cọ dầu.

 

Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2014  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM