Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG VÀ CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT ĐẬU TƯƠNG VÙNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Ts. Lê Công Nông, Ths. Thái Nguyễn Quỳnh Thư, Ks. Võ Bửu Lợi,

 Ths. Trần Văn Sỹ, Ks. Phạm Văn Ngọc, Ks. Tô Thị Bích Loan  

 

Tóm tắt

Sau 1 năm thực hiện đề tài đã ghi nhận được các kết quả như sau:

1/ Hỗn hợp vi lượng (Zn + Fe + Mn + Mo + Co) và hỗn hợp đa - vi lượng cho năng suất đậu tương cao nhất, tương ứng cho vùng Đồng Nai và Đồng Tháp là 2307 kg; 2995,2 kg và 2379 kg; 3086,2 kg/ha; vượt đối chứng 18,73 - 24,41 %. Lợi nhuận từ phân bón so với đối chứng là 4.772.000 - 8.574.000 đồng/ha và đạt cao nhất ở công thức phun hỗn hợp đa - vi lượng cho cả 2 vùng.

2/ Hỗn hợp phân bón lá đa - vi lượng phun qua lá cho năng suất đậu tương cao nhất, vượt đối chứng 11,12 - 25,88%. Lợi nhuận thu được từ phân bón là 1.480.000 - 9.004.000 đồng/ha; năng suất đạt cao nhất ở công thức phun chế phẩm đa - vi lượng, tiếp đến là phun Demax 601 ở Đồng Tháp và Đầu trâu 005-007-009 ở Đồng Nai.

3/ Chất điều hòa sinh trưởng Mepiquat Chloride (PIX) và Pacloputazol (PZ) có tác dụng ức chế làm giảm chiều cao cây đậu tương theo quy luật: Liều lượng phun càng tăng và thời kỳ phun càng sớm thì chiều cao cây càng thấp. Liều lượng phun 100ml/ha với lượng phân bón N-P-K = 50-60-60 kg/ha cho số quả/cây và năng suất thực thu đạt cao nhất.

4/ Bón phân đơn NPK có bổ sung các nguyên tố vi lượng (Zn + Fe + Mn) và bón phân tổng hợp NPK1 (10-14-14) + vi lượng (Ca, Mg, S, Zn, Fe, Cu, Mn, B, Mo, Penac P) cho cây đậu tương đạt năng suất cao nhất so với đối chứng và các công thức khác từ 2,53 - 27,86%; lợi nhuận thu được do phân bón đạt 1.072.000 - 7.398.000 đồng/ha.

 

1. MỞ ĐẦU

Trong nghiên cứu sản xuất nông nghiệp nói chung và cây đậu tương nói riêng nhiều năm qua phần lớn đều chú trọng đến các nguyên tố đa lượng (N, P, K) và đã làm nổi bật được vai trò quan trọng của chúng trong việc nâng cao năng suất cây trồng. Tuy nhiên, các nguyên tố trung lượng (Ca, Mg, S), đặc biệt là các nguyên tố vi lượng, mặc dù là một bộ phận không thể tách rời trong dinh dưỡng cây trồng nhưng hầu như ít được quan tâm nghiên cứu nhiều. Đã đến lúc phải xem xét vấn đề trung, vi lượng như một bộ phận cấu thành quan trọng trong giải pháp tổng thể nâng cao năng suất cây trồng và phát huy tối đa tiềm năng của đất.

 

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu

Giống MTĐ176 cho vùng Đông Nam bộ và giống Nhật 17A cho vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chất điều hòa sinh trưởng Mepiquat chloride, Paclobutazol, một số nguyên tố vi lượng, phân bón NPK, phân bón lá.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Nghiên cứu hiệu lực một số nguyên tố vi lượng Kẽm (Zn), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Coban (Co) đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương. Thí nghiệm có 8 nghiệm thức, 1 yếu tố, bố trí kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần nhắc lại, diện tích ô 50m2.

2.2.2. Nghiên cứu xác định hỗn hợp các nguyên tố vi lượng và phân bón lá thích hợp cho cây đậu tương. Thí nghiệm gồm có 5 nghiệm thức, 1 yếu tố, bố trí kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần nhắc lại, diện tích ô 50m2.

2.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời kỳ phun chất ĐHST Mepiquat Chloride (MC), Paclobutazol (PZ) đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương. Thí nghiệm gồm có 9 nghiệm thức, 2 yếu tố (liều lượng chất ĐHST và thời kỳ phun), bố trí kiểu lô phụ (Split Plot design), 3 lần nhắc lại, diện tích ô 50m2.

2.2.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hỗn hợp đa lượng và vi lượng đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương. Thí nghiệm gồm có 7 nghiệm thức, 1 yếu tố, bố trí kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần nhắc lại, diện tích ô 50m2.

2.2.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng phun chất ĐHST Mepiquat Chloride (MC), Paclobutazol (PZ) đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương. Thí nghiệm gồm có 9 nghiệm thức, 2 yếu tố (mật độ gieo và liều lượng chất ĐHST), bố trí kiểu lô phụ (Split Plot design), 3 lần nhắc lại, diện tích ô 50m2.

2.2.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và liều lượng phun chất ĐHST Mepiquat Chloride (MC), Paclobutazol (PZ) đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương. Thí nghiệm gồm có 9 nghiệm thức, 2 yếu tố (phân bón và liều lượng chất ĐHST), bố trí kiểu lô phụ (Split Plot design), 3 lần nhắc lại, diện tích ô 50m2.

2.2.7. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xử lý số liệu

- Các chỉ tiêu theo dõi được xác định theo hệ thống tiêu chuẩn của ngành và quy trình của Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu.

- Số liệu thí nghiệm thu thập được tính toán và xử lý thống kê trên máy vi tính với phần mềm chuyên dụng MSTATC và chương trình Microsoft Excel 5.0.

 

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu hiệu lực của một số nguyên tố vi lượng đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương

Phun Molipđat Amôn, CoSO4, hỗn hợp vi lượng (Zn + Fe + Mn + Mo + Co) và hỗn hợp đa-vi lượng ở cả 2 vùng cho năng suất đậu tương cao nhất, vượt các công thức khác và đối chứng 4,98 % - 24,41%. Năng suất đạt cao nhất ở công thức phun hỗn hợp vi lượng (Zn + Fe + Mn + Mo + Co) và hỗn hợp đa – vi lượng, đạt tương ứng cho vùng Đồng Nai và Đồng Tháp là 2307 kg; 2995,2 kg và 2379 kg; 3086,2 kg, vượt đối chứng 18,73 – 24,41 %.

Các công thức phun hỗn hợp vi lượng (Zn + Fe + Mn + Mo + Co) và hỗn hợp đa – vi lượng cho lợi nhuận từ phân bón sau khi đã trừ chi phí tăng thêm so với đối chứng đạt cao nhất từ 4.772.000 đồng/ha – 8.574.000 đồng/ha và đạt cao nhất ở công thức phun hỗn hợp đa – vi lượng cho cả 2 vùng. 

3.2. Nghiên cứu xác định hỗn hợp các nguyên tố vi lượng và phân bón lá  thích hợp cho cây đậu tương

Khi so sánh hiệu lực của hỗn hợp đa – vi lượng với các chế phẩm phân bón lá phổ biến trong vùng như Demax601, Boom flower, Đầu trâu 005-007-009 ở Đồng Tháp và HVP801, HVP1001S, Đầu trâu 005-007-009 ở Đồng Nai đã thể hiện hiệu lực vượt trội của chế phẩm đa – vi lượng đã cho năng suất đậu tương cao nhất và hơn đối chứng không phun từ 11,12 – 25,88% có ý nghĩa so sánh. Ngoài ra còn có chế phẩm Demax 601 sử dụng ở Đồng Tháp và Đầu trâu 005-007-009 sử dụng ở Đồng Nai cũng cho năng suất cao hơn đối chứng > 12%.

Lợi nhuận thu được từ phân bón đạt được từ 1.480.000 đồng/ha – 9.004.000 đồng/ha và đạt cao nhất ở công thức phun chế phẩm hỗn hợp đa – vi lượng (đạt 2.928.000 đồng/ha ở Đồng Nai và 9.004.000 đồng/ha ở Đồng Tháp), tiếp đến là phun Demax 601 ở Đồng Tháp (đạt 4.042.000 đồng/ha) và Đầu trâu 005-007-009 ở Đồng Nai (đạt 2.906.000 đồng/ha).

3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và thời kỳ phun chất điều hòa sinh trưởng Mepiquat Chloride (MC), Paclobutazol (PZ) đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương

Có ảnh hưởng tương tác giữa liều lượng và thời kỳ phun chất điều hòa sinh trưởng lên năng suất thực thu của cây đậu tương. Khi phun với liều lượng 50ml/ha vào thời kỳ 30 ngày sau gieo cho năng suất thực thu cao nhất (công thức L1T2 đạt 2.690 kg/ha), kế đến là phun với liều lượng 150ml/ha vào thời kỳ 30 ngày sau gieo (công thức L3T2 đạt 2.659 kg/ha).

3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hỗn hợp đa lượng và vi lượng đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương

Công thức bón NPK có bổ sung các nguyên tố vi lượng (Zn + Fe + Mn) và công thức bón phân NPK1 (10-14-14) + vi lượng (Ca, Mg, S, Zn, Fe, Cu, Mn, B, Mo, Penac P) đã có tác dụng làm tăng năng suất thực thu và đạt cao nhất  hơn hẳn đối chứng bón NPK không vi lượng và các công thức bón NPK có bổ sung vi lượng NPK + Zn; NPK + Mn; NPK + Fe và NPK không có vi lượng từ 2,53 – 27,86%; sự sai khác có ý nghĩa so sánh ở mức xác suất 95% và lợi nhuận thu được từ phân bón đạt 1.072.000 – 7.398.000 đồng/ha và đạt cao nhất ở công thức 5, bón nền + (Zn+ Fe + Mn) cho cả 2 vùng sinh thái Đồng Nai và Đồng Tháp, tiếp đến là công thức 6 bón NPK1 (10-14-14) + vi lượng.

3.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo trồng và liều lượng phun chất điều hòa sinh trưởng Mepiquat Chloride (MC), Paclobutazol (PZ) đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương

Ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng phun chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất thực thu, xét về giá trị tuyệt đối thì cho thấy năng suất tăng theo liều lượng phun chất điều hòa sinh trưởng tăng. Mật độ gieo càng tăng thì năng suất càng giảm. Tương tác giữa mật độ gieo và liều lượng phun chất điều hòa sinh trưởng chưa thể hiện rõ quy luật, tuy nhiên năng suất đạt cao nhất ở mật độ gieo 12,5 cây/m2 trên cả 3 liều lượng phun.

3.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và liều lượng phun chất ĐHST (Paclobutazol) đến sinh trưởng và năng suất cây đậu tương (Đồng Tháp)

Ảnh hưởng của phân bón và liều lượng phun chất điều hòa sinh trưởng lên chiều cao cây, số quả trên cây, tỷ lệ quả 3 hạt và tỷ lệ quả 2 hạt, khối lượng 100 hạt, năng suất đậu tương chưa thể hiện rõ quy luật. Xét về mặt giá trị tuyệt đối cho thấy: Bón phân với liều lượng N-P-K = 50-60-60 kg/ha cho năng suất thực thu đạt cao nhất (2.703,2 kg/ha) và năng suất đạt thấp nhất ở liều lượng bón phân N-P-K = 30-40-40 kg/ha. Về liều lượng phun chất điều hòa sinh trưởng cho thấy năng suất đậu tương giảm khi phun tăng liều lượng và năng suất đạt cao nhất ở công thức phun 100 ml/ha (2674,3 kg/ha) và thấp nhất ở công thức phun 200 ml/ha (2620,1 kg/ha).

 

4. KẾT LUẬN

4.1. Hỗn hợp vi lượng (Zn + Fe + Mn + Mo + Co) và hỗn hợp đa - vi lượng cho năng suất đậu tương cao nhất, tương ứng cho vùng Đồng Nai và Đồng Tháp là 2307 kg; 2995,2 kg và 2379 kg; 3086,2 kg/ha; vượt đối chứng 18,73 - 24,41 %. Lợi nhuận từ phân bón so với đối chứng là 4.772.000 - 8.574.000 đồng/ha.

4.2. Hỗn hợp phân bón lá đa - vi lượng phun qua lá cho năng suất đậu tương cao nhất, vượt đối chứng 11,12 - 25,88%. Lợi nhuận thu được từ phân bón là 1.480.000 - 9.004.000 đồng/ha; năng suất đạt cao nhất ở công thức phun chế phẩm đa - vi lượng, tiếp đến là phun Demax 601 ở Đồng Tháp và Đầu trâu 005-007-009 ở Đồng Nai.

4.3. Chất điều hoà sinh trưởng phun với liều lượng càng tăng và thời kỳ phun càng sớm thì chiều cao cây càng thấp. Liều lượng phun 100ml/ha với lượng phân bón N-P-K = 50-60-60 kg/ha cho số quả/cây và năng suất thực thu đạt cao nhất.

4.4. Bón phân đơn NPK có bổ sung các nguyên tố vi lượng (Zn + Fe + Mn) và bón phân tổng hợp NPK1 (10-14-14) + vi lượng (Ca, Mg, S, Zn, Fe, Cu, Mn, B, Mo, Penac P) cho cây đậu tương đạt năng suất thực thu cao nhất, vượt đối chứng và các công thức khác từ 2,53 - 27,86%; lợi nhuận thu được do phân bón đạt 1.072.000 - 7.398.000 đồng/ha.

Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2017  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM