Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

NGHIÊN CỨU BÓN PHÂN KALI CHO CÂY DỪA LAI (JVA1) GIAI ĐOẠN CHO QUẢ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Phạm Thị Lan

Tóm tắt

Nội dung nghiên cứu xuất phát từ kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu một số tổ hợp phân bón cho cây dừa lai JVA1 thời kỳ đầu ra quả vùng ĐBSCL” giai đoạn 2006-2008, nhằm tìm ra lượng phân Kali thích hợp mang lại HQKT cho cây dừa lai JVA1 giai đoạn cho quả vùng ĐBSCL. Kết quả cho thấy, với lượng phân kali (0,9 kg K2O/cây/năm), trên nền (0,7 kg kg N + 0,36 kg P2O5)/cây/năm, tương đương với (110 kg N + 55 kg P2O5 + 144 kg K2O ha/năm, cây dừa Lai JVA1 tại Ấp Tân Ninh, xã Xuân Đông, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang sinh trưởng, phát triển tốt nhất {Năng suất quả (155 quả/cây/năm) và năng suất dầu (4.020 kg/ha/năm) gấp gấp 1,8 lần so với đối chứng A (Bón theo kinh nghiệm của nông dân) và gấp1,2 lần so với đối chứng B (bón theo khuyến cáo của Viện giai đoạn cây được 5 tuổi).

 

1. Mở đầu

Kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng cho cây dừa cao ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, cây dừa cho năng suất ở mức 100 quả/cây/năm, đã lấy đi 49 kg N, 16 kg P2O5,  115 kg K2O (tỷ lệ K2O/N = 2,3); theo kết quả nghiên cứu của Nathaniet, 1969, khi năng suất dừa đạt 60 quả/cây/năm, cây dừa đã lấy đi 72 kg N, 39 kg P2O5,  108 kg K2O (tỷ lệ K2O/N = 1,5); Theo Copeland, 1931, khi năng suất dừa đạt 1,5 tấn Copra/ha/năm, cây dừa đã lấy đi 93 kg N, 41 kg P2O5, 138 kg K2O (tỷ lệ K2O/N = 1,48); theo Cooke, 1950 khi năng suất dừa đạt 25 quả cây/năm, cây dừa đã lấy đi 29 kg N, 9 kg P2O5,  26 kg K2O (tỷ lệ K2O/N = 0,9). Như vậy, khi năng suất dừa càng cao thì tỷ lệ K2O/N mà cây dừa lấy đi từ đất càng lớn. Nghĩa là, khi cung cấp một lượng phân kali hợp lý, sẽ gia tăng năng suất cây dừa. Mặt khác, ở Viện nghiên cứu cây công nghiệp (Ấn Độ) khuyến cáo rằng, lượng phân bón cho dừa lai cao gấp 1,5 lần so với dừa địa phương trong cùng điều kiện.

Giai đoạn 2006-2008, Viện Nghiên cứu Dầu và cây có dầu đã “Nghiên cứu một số tổ hợp phân bón cho cây dừa lai JVA1 tại Tiền Giang” kết quả cho thấy,  vào thời kỳ đầu cho quả (5 năm tuổi), bón phân ở mức (110 kg N + 55 kg P2O5 + 100 kg K2O)/ha/năm, tương đương với (0,7kg N + 0,36kg P2O5  + 0,7 kg K2O)/cây/năm, cho kết quả tốt nhất, đạt năng suất (79 quả/cây/năm hay 12.700 quả/ha/năm) và hiệu quả kinh tế (HQKT) cao gấp 1,5 lần so với đối chứng (công thức khuyến cáo của Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu giai đọan mới ra hoa - 5 năm tuổi).  Tuy nhiên, kết quả phân tích lá sau 3 năm thí nghiệm cho thấy, hàm lượng N và P2O5  trong lá gần đạt mức trung bình, riêng hàm lượng kali vẫn còn thấp so với mức khủng hoảng của cây (Hàm lượng kali trong lá chỉ đạt 0,4% -0,5%, trong khi một số nước trên thế giới cho rằng “mức khủng hoảng hàm lượng K trong lá của cây dừa từ 0,8% -1,0%. Để làm sáng tỏ thêm vai trò của K đối với cây dừa lai tại vùng ĐBSCL, trong 2 năm 2009-2010, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu tiếp tục  thực hiện nội dung “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali đến sinh trưởng, phát triển và HQKT trên cây dừa lai JVA1giai đọan cho quả vùng ĐBSCL”.

 

2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1. Vật liệu

- Cây dừa lai JVA1 thời kỳ cho quả (sau 7-8 năm trồng) trồng với mật độ 160 cây/ha (cây cách cây 8 m; hàng cách hàng 8 m).

- Phân bón: Đạm Phú Mỹ, có hàm lượng N: 46%, phân lân Long Thành có hàm lượng P2O5: 18% và KCl có hàm lượng K2O: 60%.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

- Bố trí thí nghiệm

+ Thí nghiệm đơn yếu tố (Single- Factor Experiments ), bố trí theo kiểu khối đầy đủ, ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design - R.C.B.D) với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại, tổng cộng 15 ô. 

+ Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức (A, B, C, D và E) ứng với 5 mức phân K2O/cây/năm như sau (A:0,3 kg; B:0,6kg; C:0,9kg; D:1,2kg và E:1,5kg). Trong đó A là nghiệm thức bón phân kali theo kinh nghiệm của nông dân (đối chứng 1). B là nghiệm thức bón phân kali theo khuyến cáo của Viện Nghiên cứu dầu và Cây có dầu dựa trên kết quả nghiên cứu  giai đọan 2006-2008 (đối chứng 2). tất cả các nghiệm thức được bố trí trên nền phân (1,5 kg Urê + 2,0 kg Super lân) /cây/năm.

 Cách bón và thời gian bón phân như sau:

 Làm cỏ sạch trước khi bón phân. Đào 1 rãnh xung quanh gốc dừa theo hình chiếu của tán lá, sâu khoảng 10cm, rải phân xuống rãnh, lấp đất lại. Lượng phân Super lân bón một lần vào đầu mùa mưa. Lượng phân Ure, KCl, hữu cơ chia làm 3 lần bón vào đầu mùa mưa, giữa mùa mưa và cuối mùa mưa.

- Thời gian và địa điểm thí nghiệm

Thí nghiệm tiến hành trong 2 năm 2009-2010 tại xã Xuân Đông, huyện Chợ Gao, tỉnh Tiền Giang.

- Quy mô thí nghiệm: 0,8 ha

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Chỉ tiêu sinh trưởng: Tổng số lá xanh,  số lá mở, chiều dài lá thứ 14, tổng số lá chét, chiều dài lá chét và chiều rộng lá chét.

+ Chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: Tỷ lệ đậu quả; số quày/cây; số quả/quày; số quả/cây

+ Khối  lượng và thành phần trái dừa: Khối lượng quả khô; Khối lượng cơm dừa tươi; Bề dày cơm dừa tươi; hàm lượng dầu.

+ Hàm lượng dinh dưỡng khoáng trong lá thứ 14 của cây dừa: N, P, K, Ca, Mg.

- Sử lý số liệu: Số liệu thu thập được xử lý thống kê trên phần mềm Excel và MSTATC

 

3. Kết quả thảo luận

3.1. Kết quả phân tích đất, lá trước khi thí nghiệm

* Kết quả phân tích đất cho thấy: pH đất hơi thấp. Đạm, lân và kali tổng số trong đất đều đạt mức trung bình. Nhưng đạm và lân dễ tiêu ở mức thấp, kali dễ tiêu trung bình. Manhê và canxi trao đổi ở mức trung bình (1,99 meq/100g và 5,14meq/100g). Qua đó có thể xác

* Kết quả phân tích lá

 Hàm lượng đạm gần đạt mức trung bình (1,5% so với 1,8%). Hàm lượng lân trung bình (0,13% so với 0,12%-0,14%). Hàm lượng Kali hơi thấp (0,52% so với 0,8 % - 1,0%). Hàm lượng Manhê ở mức trung bình (0,3% so với 0,3%). Hàm lượng canxi ở mức thấp (0,3% so với 0,5%).

Kết quả phân tích đất, lá tại vườn dừa trước khi bố trí thí nghiệm cho thấy: Đất hơi chua, hàm lượng đạm và lân dễ tiêu thấp. Trong lá, hàm lượngKali và Canxi  thấp.

3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali đối với sinh trưởng, phát triển và hiệu quả kinh tế của cây dừa Lai JVA1 giai đọan cho trái tại Tiền Giang

* Ảnh hưởng của kali tới sinh trưởng của cây dừa.

Sau 1 năm thí nghiệm, chưa thấy sự khác biệt đáng kể về các chỉ tiêu sinh trưởng. Nhưng sau 2 năm thí nghiệm, bắt đầu có sự khác biệt về tổng số lá xanh và chiều dài lá giữa các nghiệm thức {Tổng số lá xanh ở nghiệm thức C cao nhất (42 lá) có ý nghĩa so với nghiệm thức A (40,7 lá), nhưng chưa thấy sự khác biệt so với các nghiệm thức còn lại. Chiều dài lá lại có số đo cao nhất ở nghiệm thức B (455 cm) và có khác điệt đáng kể so với nghiệm thức A, nhưng chưa khác biệt đáng kể so với các nghiệm thức còn lại}.

Tóm lại, Sau 2 năm theo dõi thí nghiệm bón phân kali cho cây dừa lai JVA1 giai đọan đang ra quả cho thấy, bón phân kali ở nghiệm thức C (0,9 kg K2O/cây/năm), cho số lá xanh trên cây cao nhất (42 lá) và bón phân kali ở nghiệm thức B (0,6kgK2O/cây/năm), cho chiều dài lá cao nhất(455cm).

 * Ảnh hưởng của kali tới tỷ lệ đậu quả và năng suất của cây dừa.

Tỷ lệ đậu quả: Sau 1 năm thí nghiệm, tỷ lệ đậu quả giữa các nghiệm thức C, D, E  tương đương nhau (40,5%, 41,2%, 40,3%) và đều khác biệt đáng kể so với nghiệm thức A (35,5%). Sau 2 năm thí nghiệm, các nghiệm thức C, D, E có tỷ lệ đậu quả tương đương nhau (46,3%, 40,6%, 40,5%) và đều khác biệt đáng kể so với nghiệm thức A và B (36,9% và 37,3%).

Số quả/cây: Sau 1 năm thí nghiệm, chưa có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức. Nhưng sau 2 năm thí nghiệm, bón phân kali cho cây dừa lai ở nghiệm thức C cho số quả/cây cao nhất (155 quả) và sự khác biệt này rất có ý nghĩa so với nghiệm thức A và có ý nghĩa so với nghiệm thức B. Điều đó chứng tỏ rằng, sau 2 năm thí nghiệm, bón phân kali cho cây dừa lai JVA1 ở  nghiệm thức C đã cho số quả/cây cao nhất. 

* Ảnh hưởng của kali đối với khối  lượng và thành phần quả dừa lai JVA1

Khi bón phân ở nghiệm thức C (0,9kg K2O)/cây/năm, đã cho khối lượng hạt và khối lượng cơm dừa tươi/quả đạt giá trị cao nhất: Khối lượng hạt (quả khô lột vỏ) đạt 1.125g/quả và khối lượng cơm dừa tươi đạt 475g. Ngoài ra, hàm lượng dầu cũng đạt ở mức cao (68,1%) so với nghiệm thức A và B (68,1% so với 61% và 63,2%). Kết quả này chứng tỏ rằng, sau 2 năm thí nghiệm, bón phân kali cho cây dừa lai JVA1 ở mức (0,9kg K2O)/cây/năm, đã ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng hạt, khối luợng cơm dừa tươi và hàm lượng dầu của cây dừa lai JVA1 sau 7 năm trồng tại xã Xuân Đông, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

* Ảnh hưởng của kali đối với năng suất cơm dừa khô và năng suất dầu/ha

Nếu quy đổi ra khối lượng cơm dừa khô/ha và khối lượng dầu/ha, khi bón kali ở nghiệm thức C cho cây dừa lai JVA1, đã cho khối lượng cơm dừa khô và khối lượng dầu đạt trị số cao nhất (5.820 kg cơm dừa khô/ha và  4.020 kg dầu thô/ha).

* Ảnh hưởng của kali đối với hiệu quả kinh tế của cây dừa lai JVA1.

Bón phân kali ở nghiệm thức C (0,9 kg K2O/cây/năm) cho HQKT cao nhất (75.300.000đ/ha/năm), gấp 1,8 lần so với đối chứng A (40.300.000 đ/ha/năm) và 1,2 lần so với đối chứng B (62.300.000đ).

Tóm lại, khi bón phân kali ở mức (0,9 kg K2O/cây/năm) trên nền (0,7 kg kg N + 0,36 kg P2O5)cây/năm, cây dừa lai JVA1 đã sinh trưởng, phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho vườn dừa.

* Kết quả phân tích lá dừa lai JVA1 sau 2 năm thí nghiệm.

Kết quả phân tích lá cho thấy, hàm lượng đạm, lân và Manhê  trong lá đạt trị số trung bình. Riêng hàm lượng kali và canxi trong lá vẫn ở mức thấp so với mức khủng hoảng dinh dưỡng được khuyến cáo bởi Magat, 1988. Từ kết quả này, chúng tôi lý giả rằng, có thể do đất hơi chua (pH trong đất = 5,3), đã ảnh hưởng đến  khả năng hấp thu kali trong lá. Vì vậy, trong thời gian tới, cần nghiên cứu  về hàm lượng canxi phù hợp cho cây dừa, góp phần hoàn thiện công thức bón phân cho cây dừa lai giai đoạn cho quả vùng ĐBSCL..

 

4. Kết luận và đề nghị

4.1. Kết luận: Đối với dừa Lai JVA1 (7-8 năm tuổi), bón phân kali ở mức (0,9 kg K2O/cây/năm) trên nền (0,7 kg kg N + 0,36 kg P2O5)cây/năm, tương đương với (110 kg N + 55 kg P2O5 + 144 kg K2O)/ha/năm cho số quả/cây, năng suất dầu/ha và HQKT của vườn dừa đạt mức cao nhất (số quả/cây: 155 quả; năng suất dầu/ha: 4.020 kg và HQKT đạt 75.300.000 đ/ha/năm) gấp gấp 1,8 lần so với đối chứng A (bón kali theo kinh nghiệm của nông dân) và 1,2 lần so với đối chứng B (bón kali theo khuyến cáo của Viện Nghiên cứu dầu và Cây có dầu khi cây được 5 tuổi).

4.2. Đề nghị:

- Đối với dừa lai JVA1 vùng ĐBSCL (vào giai đoạn 7-8 năm tuổi), nên áp dụng lượng phân bón (0,7 kg N + 0,35 kg P2O5 + 0,9 kg K2O)/cây/năm hay (110 kg N + 55 kg P2O5 + 145 kg K2O)/ha/năm.

- Tiếp tục nghiên cứu bón phân Canxi cho cây dừa lai JVA1 giai đoạn cho quả vùng ĐBSCL nói chung.
Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2017  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM