| Ks. Thái Nguyễn Quỳnh Thư, Ts. Ngô Thị Lam Giang, Ks. Phạm Phú Thịnh Tóm tắt Bằng phương pháp lai hữu tính theo kiểu lai đỉnh (Topcross), từ 5 giống mẹ và 4 giống bố đã tạo ra được 20 tổ hợp lai. Trong quá trình chọn lọc qua các thế hệ từ F1 đến F5 đã chọn ra được 4 dòng lai Đã tuyển chọn được 4 dòng lạc: L2009-3, L2009-4, L2009-5 và L2009-7 có thời gian sinh trưởng ngắn (90-95 ngày), chiều cao cây trung bình, ít đỗ ngã, năng suất cao (trên 40 tạ/ha), khối lượng 100 hạt lớn (trên 50g/100 hạt), tỷ lệ nhân (>72%) và tỷ lệ hạt chắc cao (>90%), hàm lượng dầu trên 48%, tổng hàm lượng acid béo oleic và linoleic đạt trên 75%. 1. MỞ ĐẦU Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây có dầu ngắn ngày có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta và là cây trồng có ưu thế cạnh tranh trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên, thực tế sản xuất cho thấy việc nghiên cứu chọn tạo giống mới cung cấp cho sản xuất còn hạn chế, nông dân chủ yếu sử dụng giống trôi nổi, chất lượng kém. Chính vì vậy mà năng suất lạc trong sản xuất đại trà còn thấp, khó cạnh tranh với các cây trồng ngắn ngày khác. Vì vậy, nghiên cứu chọn tạo giống lạc mới góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm là nhu cầu cần thiết. 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Việc tạo hạt lai tạo được thực hiện trong nhà lưới tại Trạm thực nghiệm Bình Thạnh, Tp.HCM thuộc Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có Dầu, trong vụ Đông Xuân 2008-2009 theo phương pháp lai đỉnh (Topcross). Thực hiện 20 tổ hợp lai giữa 5 giống mẹ và 4 giống bố. Mỗi tổ hợp gồm có 5 chậu giống mẹ (mỗi chậu 2 cây) và 5 chậu giống bố (mỗi chậu 3 cây). Các chậu bố và mẹ được đặt song song nhau. 2.2. Chọn lọc dòng lai qua các thế hệ Các tổ hợp lai được gieo tuần tự cùng với giống bố mẹ, không lặp lại, khoảng cách 18 x 18 cm, gieo 1 hạt/hốc. Thí nghiệm so sánh dòng được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), với 3 lần lặp lại, diện tích ô thí nghiệm 5m2. Số liệu được xử lý theo phần mềm Excell, MSTATC 1.2. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Trong vụ Đông Xuân 2008-2009, đề tài đã thực hiện 20 tổ hợp lai lạc tại Trạm Thực nghiệm Bình Thạnh. Các giống có khả năng thích nghi rộng, năng suất cao được chọn làm giống mẹ, các giống có khối lượng hạt lớn hoặc hàm lượng dầu cao được chọn làm giống bố trong quá trình lai tạo. Kết quả cho thấy, do thực hiện thí nghiệm lai tạo trong nhà lưới, cường độ chiếu sáng thấp nên thời gian sinh trưởng tương đối dài (103-117 ngày). Thời gian lai của các tổ hợp biến động từ 8-22 ngày. Tỷ lệ đậu quả lai biến động từ 10,9-44,2%. Có 4 tổ hợp chết sau khi kết thúc lai, vì vậy đề tài sẽ tiếp tục khảo sát hạt lai các thế hệ của 16 tổ hợp còn lại. * Đánh giá các tổ hợp lai thế hệ F1 Kết quả khảo sát, đánh giá hạt lai thế hệ F1 của 16 tổ hợp lai được ghi nhận ở bảng 4.19 cho thấy chưa có sự phân ly về hình thái giữa các cá thể trong cùng tổ hợp lai. Thời gian sinh trưởng của các giống bố mẹ biến động từ 88-102 ngày, của các tổ hợp lai biến động từ 96-105 ngày. Chiều cao cây và số cành cấp 1 trên cây biến động không nhiều giữa các giống bố mẹ và con lai. Số trái trên cây của các tổ hợp lai biến động nhiều so với giống bố mẹ. Các tổ hợp có số trái trên cây cao trên 30 trái là: VD 2/HQ 07-10, VD 7/HQ 08-23, VD 1/ICGV 94357, VD 2/ICGV 94357 và VD 7/ICGV 94357. Khối lượng 100 hạt của các tổ hợp lai biến động từ 44,5-50,3g. Tổ hợp lai có khối lượng 100 hạt cao nhất là VD 1/ICGV 94357 (50,3g), kế đến là tổ hợp VD 2/ICGV 94357 (49,7g), VD 2/ICGV 93280 (49,5g) và VD 7/HQ 07-10 (49,1g). Năng suất của các tổ hợp lai biến động từ 11,8-35,5 g/cây, trong đó cao nhất là tổ hợp VD 6/HQ 07-10 (35,5 g/cây), kế đến là VD 2/ICGV 94357 (34,0 g/cây), VD 7/HQ 08-23 (32,7 g/cây), VD 2/HQ 07-10 (32,5 g/cây). * Chọn lọc dòng lai thế hệ F2 Hạt lai thế hệ F1 của 16 tổ hợp sau khi thu hoạch, đề tài tiếp tục gieo, đánh giá thế hệ F2 trong vụ Thu Đông 2009 tại Tây Ninh. Thời gian sinh trưởng trung bình của các quần thể lai tương đương với giống bố mẹ. Chiều cao cây và số cành trên cây biến động không nhiều giữa các tổ hợp lai so với giống bố mẹ ban đầu. Có 8 tổ hợp đạt trên 20 trái/cây, 7 tổ hợp có khối lượng 100 hạt trên 48g, 2 tổ hợp có năng suất trái/cây trên 20g. Từ các quần thể lai thế hệ F2, đề tài đã chọn lọc 51 cá thể lai có số trái trên cây nhiều, khối lượng 100 hạt lớn, năng suất trái trên cây cao, thời gian sinh trưởng ngắn (90-96 ngày). * Chọn lọc dòng lai thế hệ F3 Từ 51 cá thể được chọn lọc ở quần thể thế hệ F2, chúng tôi tiến hành bố trí thí nghiệm chọn lọc dòng lạc thế hệ F3 trong vụ Đông Xuân 2009-2010 tại Trà Vinh. Kết quả ghi nhận cho thấy các dòng lai có thời gian sinh trưởng (TGST) biến động từ 90-98 ngày, giống VD2 đối chứng có TGST 90 ngày. Chiều cao cây của các dòng lai biến động từ 35,4-49,7 cm, số cành trên cây biến động từ 3,8-5,5 cành. Số trái trên cây của các tổ hợp lai biến động từ 15,3-25,9 trái. Khối lượng 100 hạt biến động từ 47,3-52,3 g. Năng suất trái trên cây của các tổ hợp lai biến động từ 13,8-29,5 g. Từ kết quả khảo sát dòng lai thế hệ F3, đề tài đã chọn lọc 32 cá thể có số trái trên cây cao, khối lượng 100 hạt trên 48,0g và năng suất trái trên cây trên 25,0g để tiếp tục đánh giá ở thế hệ F4 trong vụ tiếp theo. Kết quả được ghi nhận ở Bảng 4.23. * Chọn lọc dòng lai thế hệ F4 Từ các 32 cá thể được chọn lọc ở thế hệ F3, đề tài tiếp tục bố trí thí nghiệm chọc lọc các dòng lạc thế hệ F4 trong vụ Hè Thu 2010 tại Trà Vinh. Kết quả ghi nhận các dòng lai có thời gian sinh trưởng (TGST) biến động từ 90-98 ngày, giống VD2 đối chứng có TGST 90 ngày. Chiều cao cây của các dòng lai biến động từ 33,8-47,5 cm, số cành trên cây biến động từ 3,5-5,5 cành. Số trái trên cây của các tổ hợp lai biến động từ 12,7-24,5 trái. Khối lượng 100 hạt biến động từ 46,7-49,5 g. Năng suất trái trên cây của các tổ hợp lai biến động từ 10,4-23,8 g. 3.3 So sánh các dòng lạc Từ kết quả của thí nghiệm chọn lọc dòng thế hệ F4, đề tài chọn 15 dòng tốt (mỗi dòng bao gồm những cá thể tốt, đồng đều về hình thái trong cùng tổ hợp) để bố trí thí nghiệm so sánh các dòng lạc triển vọng trong vụ Đông Xuân 10-11 tại Trà Vinh. Kết quả ghi nhận cho thấy tỷ lệ nhân của các dòng lai biến động từ 70,2-73,0%, không khác nhiều so với giống VD2 làm đối chứng, trong đó dòng L2009-4 có tỷ lệ nhân cao nhất (73%). Tỷ lệ hạt chắc của các dòng lai biến động từ 85,4-92,7%, trong đó dòng lai L2009-4 có tỷ lệ nhân cao nhất (92,7%), kế đến là dòng L2009-9 (91,3%) và dòng L2009-3 (91,0%). Khối lượng 100 hạt của các dòng lai cao hơn hẳn so với giống VD2 làm đối chứng, biến động từ 48,4-53,0 g. Các dòng lai có khối lượng 100 hạt lớn hơn 50,0g là: L2009-3, L2009-4, L2009-5, L2009-7, L2009-8 và L2009-9. Năng suất của các dòng lai biến động từ 37,5-45,8 tạ/ha, vượt đối chứng từ 2-22%. Đặc biệt có các dòng lai đạt năng suất cao như: L2009-4 đạ 45,8 tạ/ha (vượt đối chứng 22%), L2009-7 đạt 44,6 tạ/ha (vượt đối chứng 19%), L2009-3 đạt 43,2 tạ/ha (vượt đối chứng 15%) và L2009-5 đạt 42,7 tạ/ha (vượt đối chứng 14%). 4. KẾT LUẬN Đã tuyển chọn được 4 dòng lạc: L2009-3, L2009-4, L2009-5 và L2009-7 có thời gian sinh trưởng ngắn (90-95 ngày), chiều cao cây trung bình, ít đỗ ngã, năng suất cao (trên 40 tạ/ha), khối lượng 100 hạt lớn (trên 50g/100 hạt), tỷ lệ nhân (>72%) và tỷ lệ hạt chắc cao (>90%), hàm lượng dầu trên 48%, tổng hàm lượng acid béo oleic và linoleic đạt trên 75%. |