Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG LƯU HÙYNH THÍCH HỢP CHO CÂY  CẢI DẦU  
  TỈNH LÂM ĐỒNG

Nghien Cuu Lieu Luong Luu Huynh Thich Hop Cho Cay Cai Dau O Tinh Lam Dong

Nguyễn Thị Liên Hoa, Nguyễn Đăng Chinh

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Cây cải dầu yêu cầu đạm, lân và lưu huỳnh (S) cao hơn cây ngủ cốc  và những cây trồng khác và sẽ không cho năng suất cao nếu không có 3 nguyên tố này. Haneklaus & Schnug (1991) tính toán mức khủng hoảng dinh dưỡng ở cây cải dầu như sau: N: 3,60%, P: 0,37%, K: 2,15%, Ca: 1,60%, Mg: 0,10%, S: 0,47%, Mn: 20ppm, Fe:82ppm, B:20ppm, Cu:4ppm và Zn:28ppm (lấy mẫu lá  vừa mới trưởng thành ở ví trí cao nhất  trước khi cây trổ hoa  để phân tích. S  giữ một vai trò quan trọng trong sự chuyển hoá cây cải dầu như là thành phần của protein và glucosinolates. S cần thiết  cho sự tạo thành protein, và nó  quan trọng để có hàm lượng protein cao trong cải dầu. Không những số lượng protein  mà còn chất lượng protein bị ảnh hưởng bởi tình trạng S của cây (Wrigley et al., 1980). Trong điều kiện thiếu S, sự thụ tinh của hoa  bị giảm rất nhiều ảnh hưởng đến năng suất về sau. Khi thiếu S số quả và kích thước quả cũng bị giảm. Trong suốt thời gian phát triển quả, số lượng hạt trong quả giảm xuống. Khi bị thiếu hụt trầm trọng, quả trở nên rỗng. Theo Hocking et al. (1999) ở miền Trung và miền Nam bang New South Wales  việc thiếu hụt S làm cải dầu thất thu 80% năng suất hạt  và 20% hàm lượng dầu trong hạt. Do vai trò quan trọng của S đến cây cải dầu, bên cạnh việc nghiên cứu  phân đa lượng N, P, K cho cây cải dầu ở Lâm Đồng, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có Dầu cũng nghiên cứu liều lượng phân S nhằm khuyến cáo một công thức phân thích hợp cho việc trồng cải dầu có năng suất cao ở vùng này. Trong bài viết này trình bày một số kết quả về nghiên cứu về liều lượng phân S thích hợp cho cây cải dầu ở tỉnh Lâm Đồng trong vụ Đông Xuân 2007-2008.  

2. PHƯƠNG PHÁP.

Thí nghiệm gồm 5 công thức được bố trí khối ngẫu nhiên trên diện hẹp với 4 lần nhắc lại với kích thước ô cơ sở 20m2. Thí nghiệm được lặp lại ở 2 vùng đất Ferralsols và Fluvisols.

Thời gian tiến hành thí nghiệm: Vụ Đông xuân 2007-2008.  

Điều kiện đất làm thí nghiệm: Ở Lâm Đồng trên đất Feralsols có hàm lượng S dễ tiêu rất thấp (5,6 mg/kg), theo phương pháp chiết xuất S dễ tiêu trong đất bằng KCL-40 nóng ở 40oC có giá trị nhỏ hơn 7 mg/kg thì đất đó thiếu hụt lưu huỳnh (Brennan, 2006). Trên đất Fluvisols có hàm lượng S dễ tiêu cao (91 mg/kg).

Phân tích hàm lượng dầu bằng máy phân tích dầu Minispec mq10 NMR Analyser tại Bộ môn Công nghệ dầu béo và Phân tích, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây Có Dầu.

Phương pháp xử lý số liệu: Theo phần mềm MSTATC, Excel

3. KẾT QUẢ.

3.1 Ảnh hưởng của lưu huỳnh đến chiều cao cây, số cành trên cây và chiều dài quả (vụ  Đông xuân 2007-2008)

Trên đất Ferralsols do hàm lượng S dễ tiêu trong đất rất thấp (5,6 mg/kg), nên khi bón  10S-40S có số cành (4,4-6,9 cành)  tăng 13-77% so với không bón S,  trong đó bón 30-40 S có số cành biến  động  6,4-6,9 cành  cho sự khác biệt có ý nghĩa so với không bón S (3,9 cành). Ở các công thức bón S không ảnh hưởng rõ đến chiều cao cây. Bón 10-40 S  có chiều dài quả (7,2-8,3 cm) dài hơn không bón S (6,1 cm) trong đó bón 20-40S có chiều dài quả  (7,9-8,3 cm) dài hơn không bón S và bón 10S một cách có ý nghĩa.  Do đất thiếu S nên triệu chứng thiếu hụt S cũng thể hiện rõ ở công thức không bón S trên cây, các lá non có màu tím đỏ, quả trên cành  ít và kém phát triển .

Trên đất Fluvisols làm thí nghiệm do hàm lượng S dễ tiêu trong đất rất cao (91 mg/kg) nên bón S vào không thấy ảnh hưởng đến chiều cao cây, số cành và chiều dài quả.

3.2 Ảnh hưởng của lưu huỳnh đến số quả trên cây, số hạt trong quả, khối lượng 1000 hạt, năng suất hạt và hàm lượng dầu.  (vụ Đông xuân 2007- 2008)

Trên đất  Ferralsols, bón 10-40S  cho số quả  (149,0-184,8 quả) nhiều hơn không bón S (112,8 quả)  32-64%  một cách có ý nghĩa. Về số hạt trong quả bón 10-40S có số hạt trên quả  (16,7-17,5 hạt) nhiều hơn không bón S (12,9 hạt) một cách có ý nghĩa    không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các mức bón 10-40S với nhau. Về khối lượng 1000 hạt  bón 30-40S có khối lượng 1000 hạt  đạt giá trị cao nhất  (3,26-3,21 g) khác biệt  có ý nghĩa so với không bón S (2,89 g).

Trên đất Fluvisols không ghi nhận ảnh hưởng của  phân S đến  đến  chiều dài quả, số hạt trong quả và khối lượng 1000 hạt do hàm lượng S dễ tiêu trong đất rất cao.

Trong điều kiện đất Ferralsols làm thí nghiệm rất thiếu S nên bón S vào có ảnh hưởng rất rõ đến năng suất hạt, bón 30-40S có năng suất hạt  (1720-1780 kg/ha) cao hơn không bón S (1330 kg/ha): 29-34% một cách có ý nghĩa, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai mức bón 30S và 40S về năng suất hạt với nhau trong đó bón 30S có hiệu suất bón 1 kg S  (13 kg hạt/kgvS) cao hơn bón 40S (11,3 kg hạ/kg S). Về hàm lượng dầu, nhận thấy  bón 10-40S có hàm lượng dầu (36,72-38,18 %) tăng 3-7 %  so với không bón S (35,56%) trong đó bón 30-40S có hàm lượng dầu đạt giá trị cao nhất ( 38,15-38,18%) và khác biệt có ý nghĩa so với không bón S và bón 10-20S.

Trên đất Fluvisols do đất có hàm lượng S dễ tiêu trong đất rất cao nên bón S không có ảnh hưởng đến năng suất hạt và hàm lượng dầu.

4. KẾT LUẬN.

Qua nghiên cứu ảnh hưởng  của S trên đất Ferralsols và Fluvisols ở Lâm Đồng nhận thấy trong điều kiện hàm lượng S dễ tiêu trong đất rất thấp (5,6 mg/kg), bón phân S có ảnh hưởng rõ đến số cành, chiều dài quả, số quả trên cây,  số hạt trên quả, năng suất hạt và hàm lượng dầu. Liều lượng phân S thích hợp cho cây cải dầu ở Lâm Đồng là là 30S/ha. Trong điều kiện đất có hàm lượng S trong đất rất cao (91 mg/kg) thì không cần bón S cho cây cải dầu.                                    

                             

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Brennan, R. (2006). Sulphur deficiency in canola. Department of Agriculture and Food, Note 202 replace Farmnote 29/95.

http://www.agric.wa.gov.au/content/FCP/CO/NUT/SULPHURDEFCAN2006.PDF

  1. Haneklaus, S., Schnug E., (1991). Evaluation of the nutritional status of oilseed rape plants by leaf analysis. In: Proceedings of the 8th international rapeseed congress; Saskatoon, Saskatchewan, Canada pp. 536-541
  2. Hocking, P.J., Norton, R., and Good, A. (1999). Crop nutrition, for Organizing Committee of 10th International Rapeseed Congress. pp.15-22.
  3. Wrigley, C.W., du cros, D.L., Archer, M.J., Downie, P.G. and Roxburgh, C.M. (1980). The sulphur content of wheat endosperm and its relevance to grain quality. Austr. J. Plant Physiol, 7, 755-766.
Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2012  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM