Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG N THÍCH HỢP CHO CÂY CẢI DẦU Ở TỈNH LÂM ĐỒNG

Nghien Cuu Lieu Luong N Thich Hop Cho Cay Cai Dau O Tinh Lam Dong

Nguyễn Thị Liên Hoa và  Nguyễn Đăng Chinh

                               

1. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Hầu hết những nghiên cứu cho rằng phân đạm có tác dụng tăng đáng kể  đến năng suất hạt ngay cả những thay đổi khác nhau về điều kiện (Maroni et al., 1994; Sieling & Christen, 1997). Tuy nhiên yêu cầu phân đạm có thể thay đổi rất nhiều theo loại đất, khí hậu, kỹ thuật canh tác, thời gian bón đạm, giống (Holmes & Ainsley, 1977; Kalkafi et al.,1998). Hàm lượng đạm trong cây tích luỹ cao nhất ở cây còn non  sau đó giảm rõ rệt theo sinh trưởng của cây (Hocking, 2001). Do vai  trò quan trọng rất lớn của đạm đến sự phát triển của toàn cây cải dầu nên sự thiếu hụt của nó làm giảm sự phát triển và năng suất một cách nhanh chóng. Việc nghiên cứu liều lượng phân bón thích hợp cho cây cải dầu ở Việt Nam chưa được thực hiện, từ thực trạng sản xuất nói trên nhận thấy cần thiết nghiên cứu chế độ bón phân thích hợp cho cây cải dầu. Trong bài viết này trình bày một số kết quả về nghiên cứu về liều lượng phân N thích hợp cho cây cải dầu ở tỉnh Lâm Đồng mà Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu đã thực hiện trong vụ Đông Xuân 2007-2008.  

2. PHƯƠNG PHÁP.

Thí nghiệm gồm 5 công thức được bố trí khối ngẫu nhiên trên diện hẹp với 4 lần nhắc lại với kích thước ô cơ sở 20m2. Thí nghiệm được lặp lại ở 2 vùng đất Ferralsols và Fluvisols.

Thời gian tiến hành thí nghiệm: Vụ Đông xuân 2007-2008.  

Điều kiện đất làm thí nghiệm: Ở Lâm Đồng trên đất Feralsols có pH(H2O) chua vừa (4,19), hàm lượng chất hữu cơ cao (5,2%), N dễ tiêu rất thấp (10mg/kg), P dễ tiêu thấp (18,7 mg/kg),  K dễ tiêu trung bình (117 mg/kg)  và đặc biệt S dễ tiêu rất thấp (5,6 mg/kg), theo phương pháp chiết xuất S dễ tiêu trong đất bằng KCL-40 nóng ở 40oC có giá trị nhỏ hơn 7 mg/kg thì đất đó thiếu hụt lưu huỳnh (Brennan, 2006). Trên đất Fluvisols có pH(H2O)  trung tính (6,0-6,1), chất hữu cơ thấp (1,81%), N dễ tiêu rất thấp (9,1mg/kg), P dễ tiêu  cao (85 mg/kg), K dễ tiêu trung bình (102 mg/kg) và S dễ tiêu cao (91 mg/kg).

Phân tích hàm lượng dầu bằng máy phân tích dầu Minispec mq10 NMR Analyser tại Bộ môn Công nghệ dầu béo và Phân tích, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây Có Dầu.

Phương pháp xử lý số liệu: Theo phần mềm MSTATC, Excel

3. KẾT QUẢ.

3.1 Ảnh hưởng  của đạm đến chiều cao cây, số cành trên cây và chiều dài quả (vụ  Đông xuân 2007-2008)

Trên cả  2 loại đất, đạm dễ tiêu trong đất rất thấp (9,1-10 ppm) nên phản ứng của phân đạm rất rõ đến sinh trưởng cũng như màu sắc lá, quan sát lá cây ở giai đoạn trước lúc ra nụ thấy màu  lá ở công thức không bón đạm có màu xanh nhạt hơn là ở công thức có bón đạm. Phản ứng của phân đạm thể hiện rất  rõ đến  chiều cao cây, số cành và  chiều dài quả.
Trên đất Ferralsols bón 30N-120N có  chiều cao cây và số cành trên cây lần lượt 134,8 - 139,5 cm và 5-7 cành cao hơn  đối chứng không bón đạm lần lượt 128,3 cm và 4,3 cành;  không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa  giữa hai mức bón 90-120 N; ở cả hai mức bón này luôn đạt giá trị cao nhất (139,5-141,8 cm và 7 cành). Trên đất Fluvisols, bón 30N-120N có chiều cao cây (116,3-126,7 cm),  số cành trên cây (7,0-8,7 cành) và chiều dài quả (5,5-5,8 cm) lần lượt vượt đối chứng 16-27%, 4-30% và 12-18%, trong đó  bón 90-120N cũng luôn đạt giá trị cao nhất. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Holmes (1980) cho rằng  một liều lượng đạm được bón sớm vào thời kỳ đầu làm tăng sự hình thành tế bào và mở rộng tế bào kết quả là làm diện tích lá tăng lên ảnh hưởng mạnh đến sự  quang hợp dẫn đến sự gia tăng sinh trưởng về sau.

3.2 Ảnh hưởng  của đạm đến số quả trên cây, số hạt trong quả, khối lượng 1.000 hạt, năng suất hạt và năng suất dầu (vụ Đông Xuân 2007 - 2008).

Trên đất Ferralsols bón 30N-120N có số quả trên cây 156,5-202,5 quả, tăng  8-40% so với không bón đạm, trong đó bón 90-120N đạt giá trị cao nhất (197,5-202,5 quả). Bón 30N-120N có số hạt trên quả 15,5-18,0 hạt, tăng 15-35% so với không bón đạm một cách có ý nghĩa  trong đó bón 90N và 120N đạt giá trị cao nhất (18,0-18,3 hạt trong quả) và không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa 2 mức bón này đến số hạt trong quả. Bón 60-120N có khối lượng 1000 hạt (3,30-3,43g) cao hơn không bón đạm 6-16%. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa các mức bón 60N-120 N về số hạt trên quả cũng như khối lượng 1000 hạt trong đó bón 90-120N đạt giá trị cao nhất. Bón  60-120 N cho năng suất hạt (1390-1760 kg/ha) vượt  không bón đạm (1060 kg/ha) 31-66 % một cách có ý nghĩa trong đó bón 90 và 120 N đạt giá trị cao nhất (1750-1760 kg/ha), không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 mức bón này đến năng suất hạt, bón 90N có hiệu suất bón 1kg N (7,6 kg hạt/kgN) cao hơn bón 120N (5,8 kg hạt/kgN).Về hàm lượng dầu nhận thấy khi bón đạm, hàm lượng dầu có chiều hướng giảm dần theo mức bón. Bón 120N có giá trị hàm lượng dầu thấp nhất (36,4%) và khác biệt có ý nghĩa so với không bón phân (38,26 %) và các mức bón 30N-90N, bón  30-90N cũng có hàm lượng dầu  thấp hơn so không bón phân tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê. Chúng ta biết rằng N là thành phần quan trọng của cây như axít amin và protein. Vào lúc thu hoạch phần lớn N ở cây cải dầu tập trung trong hạt ở dạng protein. Thông thường khi bón N vào làm gia tăng protein trong hạt và bánh dầu. Các nhà lai tạo giống cải dầu báo cáo rằng hàm lượng dầu và protein có mối quan hệ  nghịch với nhau (Canola -council of Canada, Chapter 9- Soil fertility). Ngoài ra nhiều tác giả cho biết hàm lượng dầu của cải dầu giảm xuống khi tăng mức bón N nhưng đồng thời lại có hiệu quả thuận đối với protein thô (Rathke et al., 2005) Mặc dầu bón phân đạm làm giảm hàm lượng dầu so với không bón đạm; tuy nhiên năng suất dầu trên 1ha ở công thức bón từ 60N-120N (530-640 kg/ha) đều vượt đối chứng ( 29-61%) do năng suất hạt tăng dần khi tăng mức bón đạm và mức tăng về năng suất hạt thường nhiều hơn mức giảm về hàm lượng dầu.

Trên đất Fluvisols  bón 30N-120N cho số quả  (183,7-246,3 quả) vượt đối chứng 10-46% trong đó bón 90-120N có số quả đạt giá trị cao nhất (240,3-246,3 quả). Về số hạt trong quả, bón 60-120N có số hạt trong quả (17,0-19,7 hạt) cao hơn không bón đạm 18-29% một cách có ý nghĩa. Với mức bón 90-120N có khối lượng 1000 hạt (3,23-3,25 g) khác biệt có ý nghĩa so với không bón đạm (2,98g). Bón 30N-60N mặc dầu có làm tăng năng suất hạt nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê so với không bón đạm, bón 90-120N cho năng suất hạt (2020-2120 kg/ha) vượt đối chứng không bón đạm 36-43% một cách có ý nghĩa, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 mức bón 90N và 120N, bón 90N có hiệu suất 1 kg N (6 kg hạt/kgN) cao hơn bón 120N (5,3 kg hạt/kgN). Về hàm lượng dầu cũng tương tự như trên đất ở Ferralsols,  bón phân đạm  làm giảm hàm lượng dầu, bón 120N có hàm lượng dầu đạt  giá trị thấp nhất (37,72 %) và khác biệt có ý nghĩa so với không bón đạm (40,16%) và bón 30 N  (39,78%) nhưng không khác biệt có ý nghĩa so với bón 60N (39,12%) và 90N (38,96%). Về năng suất dầu trên 1ha nhận thấy bón 90-120N  đạt giá trị cao nhất (787-799 kg/ha) và khác biệt có ý nghĩa so với không bón đạm (594 kg dầu/ha) và bón 30N (637 kg dầu/ha).                                                  

Tóm  lại, qua nghiên cứu ảnh hưởng của phân N trên cây cải dầu ở 2 loại đất Ferralsols và Fluvisols, nhận thấy do hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất rất thấp, bón đạm vào làm tăng rất rõ đến các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất  nhưng làm giảm hàm lượng dầu khi tăng dần mức bón. Liều lượng đạm thích hợp cho cây cải dầu có tác dụng làm tăng năng suất  hạt cũng như năng suất dầu và có hiệu suất cao trên 2 vùng đất Ferralsols và Fluvisols  là 90N/ha.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Brennan, R. (2006). Sulphur deficiency in canola. Department of Agriculture and Food, Note 202 replace Farmnote 29/95.

http://www.agric.wa.gov.au/content/FCP/CO/NUT/SULPHURDEFCAN2006.PDF

2. Canola -council of Canada, Chapter 9- Soil fertility. http://www.canola-council.org/contents9.aspx

3. Hocking, P.J. (2001). Effect of sowing time on nitrate and total nitrogen concentrations in field grown canola (Brassica napus L.) and immplications for plant analysis. J. Plant Nutr., 24:43-59.

4. Holmes, M.R.J.(1980). Nutrition of the oilseed rape. Appl. Sci. Publ. Ltd., London.

5. Holmes, M.R.J., Ainsley, A.M. (1977). Fertilizer  requirements of spring oilseed rape. J. Sci. Food Agr., 28:301-311

6. Kalkafi, U., Yamaguchi L., Sugimoto Y, Inanaga S. (1998). Response of oilseed rape plant to low root temperature and nitrate ammonium ratios. J. Plant Nutr., 21:1463-1481.

7. Maroni, J.S., Stringam G.R., Thiagarajah M.R. (1994). Screening for nitrogen efficiency in Brassica napus, Can.J. Plant.Sci., 74:562.

8. Rathke, G.W., Christen, O., Diepenbrock, W. (2005). Effects of nitrogen source and rate productivity and quality of winter oilseed rape (Brassica napus L.) grown in different crop rotations. Field Crops Res. 94(2-3): 103-113.

9. Sieling, K., Christen O. (1997). Effect of preceding  crop combination and N fertilization on yield of six oilseed rape cultivars (Brassica napus L.). Eur. J. Agron., 7:301-306.

Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2012  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM