| Nguyễn Thị Liên Hoa, Nguyễn Viết Thông và Trần Thành Tân 1. ĐẶT VẤN ĐỀ. Cải dầu là một cây trồng rất linh hoạt, lượng hạt giống cần gieo biến động từ 4-6 kg/ha, với giống lai lượng giống cần gieo là 3 kg/ha. Lượng giống cần gieo sao cho đảm bảo mật độ cây xấp xỉ 50-70 cây/m2 (Walton et al., 1999). Theo kinh nghiệm, mật độ cải dầu 50-70 cây/m2 (đánh giá vào 40 ngày sau khi mọc mầm) được phân bố đều trên đồng ruộng sẽ cho năng suất tối đa (Carmody, 2001). Ở Úc, mật độ cây được khuyến cáo là 30-50 cây/m2, với mật độ này nó giúp cho việc chín nhanh hơn, sớm hơn và thu hoạch dễ hơn. Thời gian và phương pháp thu hoạch của cây cải dầu là điều quyết định để có năng suất và chất lượng hạt tối ưu. Cây cải dầu cần được thu hoạch ngay sau khi quả chín để tránh sự thất thu do quả bị tách ra. Cắt cây cải dầu được khi xấp xỉ 40-70% hạt bắt đầu chuyển từ màu xanh sang màu chín và độ ẩm của hạt đạt 35% (Oilseeds WA, 2006). Hiện nay ở các nước như Ấn Độ, Iran thường sử dụng thiết bị gieo hạt để gieo cải dầu. Ở Iran dùng thiết bị gieo hạt đẩy tay yêu cầu khoảng cách gieo giữa 2 hàng (25 cm) hẹp hơn so với máy gieo hạt yêu cầu khoảng cách hàng lớn hơn (35 cm) và qua nghiên cứu gieo bằng thiết bị đẩy tay cho tỷ lệ cây mọc mầm, tỷ lệ cây cho thu hoạch và độ đồng nhất cây trên hàng và năng suất hạt không khác biệt so với gieo hạt cải bằng máy. Công ty Jang Automation của Hàn Quốc chuyên sản xuất các thiết bị đẩy tay hoặc chạy bằng máy để gieo hạt cải, hạt rau và vừng gồm các loại gieo 1 hàng (AP-1), 3 hàng (JP-3) hoặc 6 hàng (JP-6) cùng một lúc. Các thiết bị này rất phù hợp cho đồng ruộng có diện tích nhỏ như ở Việt Nam. Ở Trung Quốc người ta sử dụng thiết bị gieo hạt lúa và thay đổi kích thước lỗ của đĩa vòng thì có thể gieo được hạt cải, thiết bị này gieo cùng một lúc 2 hàng, và khoảng cách gieo giữa 2 hàng là 25 cm, thiết bị này phù hợp cho nông dân có diện tích ruộng nhỏ, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu sử dụng thiết bị gieo hạt để gieo hạt cải dầu. Nhìn chung ở Việt Nam, nghiên cứu biện pháp canh tác cải dầu còn rất ít, cần phải nghiên cứu đầy đủ biện pháp canh tác cải dầu thích hợp để trồng cải dầu đạt năng suất cao và có hiệu quả kinh tế bên cạnh các nghiên cứu tuyển chọn giống. 2. PHƯƠNG PHÁP. Thí nghiệm nghiên cứu các biện pháp canh tác liên quan đến mật độ trồng, thời điểm thu hoạch và thiết bị gieo hạt được tiến hành theo phương pháp bố trí khối ngẫu nhiên trên diện hẹp với 4 lần nhắc lại trên các ô 15-20m2. Thời gian tiến hành thí nghiệm trong các vụ: Đông xuân 2007-2008 và Thu đông 2009. Phân tích hàm lượng dầu bằng máy phân tích dầu Minispec mq10 NMR Analyser tại Bộ môn Công nghệ dầu béo và Phân tích, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây Có Dầu. Phương pháp xử lý số liệu: Theo phần mềm MSTATC, Excel 3. KẾT QUẢ. 3.1 Mật độ trồng thích hợp cho cây cải dầu ở Lâm Đồng (Đông Xuân 2007-2008). Mật độ trồng cải dầu được xác định ở 5 mức khác nhau: 20 cây/m2, 30 cây/m2, 40 cây/m2, 50 cây/m2 và 60 cây/m2. Với mật độ trồng thưa: 20 cây/1m2 cải dầu cho số cành cao nhất (9,8 cành) và với mật độ 60 cây/m2 có số cành của cải dầu đạt ở mức thấp nhất (4,5 cành) do khi trồng ở mật độ càng dày thì khả năng phân cành càng kém. Mật độ trồng của cải dầu có ảnh hưởng rất rõ đến số quả trên cây, khi trồng ở mật độ thưa (20 cây/m2) thì số quả trên cây đạt nhiều nhất (337 quả) và có xu hướng giảm dần khi trồng ở mật độ cao (168 quả ở mật độ 60 cây/m2). Ở mật độ trồng 60 cây/m2 cho năng suất hạt thấp nhất (1590 kg/ha) do trồng quá dày, cây sinh trưởng yếu, số cành và số quả đạt được ở mức thấp nhất, còn ở mật độ 20 cây/m2, 30 cây/m2, 40 cây/m2 cho năng suất hạt lần lượt 1760 kg/ha, 1790 kg/ha và 1830 kg/ha và ở mật độ 50 cây/m2 cho năng suất hạt cao nhất (2040 kg/ha), điều này liên quan đến mật độ trồng thích hợp đảm bảo cho khả năng sinh trưởng và phát triển tốt của cải dầu. 3.2 Ảnh hưởng thời điểm thu hoạch đến năng suất và hàm lượng dầu cải dầu ở Lâm Đồng (Đông Xuân 2007-2008). Nhằm xác định được thời điểm thu hoạch thích hợp đối với cải dầu, thời gian thu hoạch ở 4 thời điểm khác nhau được đưa ra dựa vào tỷ lệ chuyển màu vàng của quả chín trên cây theo các mức 30%, 50%, 70% và 100%. Nếu thu hoạch vào lúc cây có 70-100 % số quả chuyển vàng trên cây có khối lượng 1000 hạt đạt giá trị cao nhất (3,57-3,66 g) do phần lớn các hạt đều chín đầy đủ. Thu hoạch cây quá sớm khi cây mới có 30% quả chuyển vàng cho năng suất thấp nhất (2080 kg/ha) do lúc này trên cây còn quá nhiều quả non, hạt chưa chín nhiều nên khi phơi khô hạt bị nhăn nhiều hơn so với các công thức thu ở các thời điểm cây có 50, 70 và 100% quả chuyển vàng. Thu hoạch khi cây có 100% quả chuyển vàng có năng suất thấp (2130 kg/ha) khác biệt có ý nghĩa so với thời điểm thu khi trên cây có 50-70% quả chuyển vàng có năng suất lần lượt 2592 kg/ha và 2822 kg/ha, do khi thu hoạch ở thời điểm 100% quả chuyển vàng lại về mùa khô nên quả dễ bị tách vỏ và làm hạt rơi rụng nhiều làm thất thu về năng suất. Kết quả thí nghiệm cũng chỉ rõ thu hoạch ở thời điểm cây có 70% số quả chuyển vàng là thích hợp và cho năng suất hạt đạt giá trị cao nhất (2822 kg/ha). So sánh về hàm lượng dầu cũng cho thấy nếu thu hoạch ở thời điểm cây có 70-100% quả chuyển vàng thì hàm lượng dầu cũng đạt giá trị cao nhất (40,04 - 40,06%) và khác biệt có ý nghĩa so với khi thu cây có 30-50% (36,87- 38,19%) quả chuyển vàng có nhiều hạt nhăn có khuynh hướng cho hàm lượng dầu thấp (Berglund et al.,1999). 3.3 Nghiên cứu ứng dụng thiết bị gieo hạt cải dầu (vụ Thu Đông 2009). Để gieo 5 hàng với khoảng cách hàng cách hàng 20 cm trên ô có bề rộng 1m, 3 công thức gieo được thí nghiệm là:1/ Rạch hàng bằng dụng cụ bằng sắt có 5 răng với khoảng cách giữa các răng là 20 cm, mỗi lần rạch được 5 hàng, và gieo hạt bằng tay, 2/ Gieo bằng thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt được điều chỉnh khoảng cách gieo mong muốn giữa các cây là 5 cm qua 2 nhông, để gieo được 5 hàng phải đẩy 5 lần thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt. 3/ Gieo bằng thiết bị gieo gồm có 4 hộp chứa hạt được điều chỉnh khoảng cách giữa các hộp chứa hạt là 20 cm và điều chỉnh khoảng cách gieo mong muốn giữa các cây là 5cm qua 2 nhông, với thiết bị gieo gồm 4 hộp chứa hạt, mỗi lần đẩy thiết bị sẽ gieo được 4 hàng; để gieo được hàng còn lại cần phải sử dụng thêm thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về số khoảng cách không có cây mọc mầm ở các công thức nhưng chiều dài khoảng cách không có cây mọc mầm ở công thức gieo hạt bằng tay ngắn hơn có ý nghĩa so với gieo hạt bằng thiết bị là do ở công thức gieo hạt bằng tay để dễ gieo hạt (vì hạt cải nhỏ) thường rải hạt trên hàng với khoảng cách gieo giữa các hạt rất hẹp còn đối với thiết bị do đã được chỉnh sẳn khoảng cách giữa 2 hạt khoảng 5 cm nên khoảng cách gieo giữa 2 hạt cũng thưa hơn gieo hạt bằng tay, chính vì vậy sau khi hạt mọc mầm, mật độ cây trước khi tỉa cây ở các công thức gieo hạt bằng thiết bị có số cây mọc (68-70 cây/m2) cũng thấp hơn gieo hạt bằng tay (113 cây/m2) một cách có ý nghĩa. Ở công thức gieo hạt bằng tay do khoảng cách gieo nhặt hơn gieo bằng thiết bị nên yêu cầu lượng giống khoảng 4 kg cao hơn so với gieo bằng thiết bị (3 kg). Mặc dầu số cây mọc ban đầu ở 3 công thức có khác nhau nhưng vào lúc 20 ngày sau khi gieo tất cả 3 công thức đều được tỉa cây với mật độ là 50 cây/m2. Trong quá trình sinh trưởng mật độ cây có bị giảm bớt do bị mưa dập cây con, sâu bọ phá hoại, Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về mật độ cây vào lúc thu hoạch giữa gieo hạt bằng tay (35 cây/m2) và gieo bằng thiết bị (32-34 cây/m2), với mật độ này vẫn đảm bảo cây cải dầu cho năng suất cao. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về các đặc tính sinh trưởng cũng như các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở các công thức gieo hạt bằng tay so với các công thức gieo hạt bằng các loại thiết bị đẩy tay. Chi phí của việc sử dụng thiết bị gieo hạt so với việc rạch hàng và gieo hạt bằng tay cho 1 ha cho thấy gieo hạt bằng thiết bị đẩy tay có chi phí thấp hơn so với rạch hàng và gieo hạt bằng tay; đối với công thức sử dụng thiết bị gieo hạt có 1 hộp chứa hạt và công thức sử dụng thiết bị gieo có 4 hộp chứa hạt cùng với thiết bị có 1 hộp chứa hạt để gieo 5 hàng trên luống có chí phí gieo lần lượt bằng 47% và 30%, tiết kiệm được 11-15 công lao động so với rạch hàng và gieo hạt bằng tay. Sử dụng thiết bị gieo hạt có 4 hộp chứa hạt để gieo cùng một lúc 4 hàng sau đó sử dụng thêm thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt để gieo hàng còn lại có chi phí gieo thấp hơn là sử dụng thiết bị gieo có 1 hộp chứa hạt do tiết kiệm được công điều khiển thiết bị gieo. Chi phí tỉa cây ở các công thức gieo bằng thiết bị đẩy tay bằng 60% so với rạch hàng và gieo hạt bằng tay (tiết kiệm được 4 công lao động). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Berglund, D.R, Hanson, B., Zarnstorff, M. (1999). Swathing and harvesting canola. Publication A.1171. http://www.ag.ndsu.edu/pubs/plantsci/crops/a1171w.htm 2. Carmody, P. (2001). Profitable canola production in the great southern and lakes district., February 2001, Agdex 144/00, 2nd edition, Bulletin No. 4411, Agriculture Western Australia. 3. Oilseeds WA (2006). Growing Western Canola: an overview of canola production in Western Australia. Duff, J., Sermon, D., Walton, G., Manganao, P., Newman C., Wadden, K., Barbetti, M., Addison, B., Eksteen, D., Pol, E., and Leach, B. May. Oilseeds Industry Association of Western Australia.. 4. Walton, G., Mendham, M., Robertson, M., Potter, T.(1999). Phenology, physiology, and agronomy. Chapter 3. In: Canola in Australia: The first Thirty Years, PA Salisbury, TD Potter, G McDonald, AG Green, eds.pp 9-14. |