Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN CÂY JATROPHA LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT DẦU BIODIESEL

Phạm Phú Thịnh, Thái Nguyễn Quỳnh Thư, Nguyễn Đăng Phú,

Hà Văn Hân, Ngô Thị Lam Giang, Lại Văn Sấm

 

Tóm tắt

Sau 2 năm nghiên cứu của giai đoạn 2 đề tài đã có những kết luận như sau: Giống Malaysia có năng suất hạt cao nhất sau 4 năm trồng (2733 kg/ha) và hàm lượng dầu đạt 32,2%. Giống AĐ 07-1 và giống TQ 07-5 có khả năng sinh trưởng mạnh, năng suất hạt cao và hàm lượng dầu trung bình thích hợp cho vùng đất xám Tây Ninh. Xây dựng được biện pháp kỹ thuật tạm thời trong giai đoạn từ trồng đến 5 năm tuổi cho cây jatropha tại Tây Ninh.

1. MỞ ĐẦU

Hiện nay, tình hình khủng hoảng năng lượng trên thế giới và các vấn đề ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng, các nước có xu hướng đi tìm những nguồn năng lượng sạch hơn, an toàn và bền vững hơn như năng lượng sinh học (có thể tái tạo) để dần thay thế các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng bị cạn kiệt. Vì vậy việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu phát triển cây Jatropha làm nguyên liệu sản xuất dầu biodiesel” là cấp thiết nhằm tạo ra vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất dầu biodiesel.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Khảo sát tập đoàn giống Jatropha trong nước và nhập nội

Gồm 47 mẫu hạt giống Jatropha thu thập trong ngoài nước từ năm 2007 đến 2009. Năm 2007 đưa ra vườn trồng được 7 giống, năm 2008 đưa ra trồng 40 giống trong 3 đợt trồng Tất cả các giống đều được trồng bằng hạt sau khi ươm 2 tháng. Thí nghiệm bố trí tuần tự, không lặp lại, khoảng cách trồng 2m x 3m (mật độ 1667 cây/ha), diện tích ô = 60 m2, tổng số 540 cây.

2.2. So sánh các giống Jatropha ở ĐNB và Duyên hải miền Trung

Thí nghiệm 1 gồm 6 giống (360 cây): 3 giống xuất xứ từ Ấn Độ (AĐ 07-1, AĐ 07-2, AĐ 07-3), 1 giống từ Trung Quốc (TQ 07-5), 1 giống có nguồn gốc từ Thái Lan (TL 07-4) và 1 giống đối chứng địa phương VN 07-6 (sau khi ươm hạt 2 tháng, cây con được trồng tại Tây Ninh vào tháng 6 năm 2007).

Thí nghiệm 2 gồm 10 giống (300 cây): 3 giống xuất xứ từ Ấn Độ (AĐ 07-1, AĐ 07-2, AĐ 07-3), 1 giống từ Trung Quốc (TQ 07-5), 1 giống từ Thái Lan (TL 07-4), 1 giống từ Singapore (S 07-10) và 4 giống thu thập trong nước là giống (VN 07-6, VN 07-12, VN 07-13, VN 07-15) sau khi ươm hạt 2 tháng, cây con được trồng tại Ninh Thuận vào tháng 10 năm 2008.

- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 01 yếu tố, 4 lần lặp lại, khoảng cách trồng 2m x 3m (mật độ 1667 cây/ha), diện tích ô = 120 m2.

2.3. Nghiên cứu khoảng cách trồng cây Jatropha

Sử dụng giống AĐ 07-16 (sau khi ươm 2 tháng, 360 cây con được chuyển ra vườn trồng vào tháng 6 năm 2007). Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 01 yếu tố, gồm 6 nghiệm thức ứng với 6 khoảng cách trồng, 4 lần lặp lại, diện tích ô = 36 - 144 m2.

2.4. Nghiên cứu kỹ thuật tạo tán cây Jatropha

Sử dụng giống AĐ 07-16 (sau khi ươm 2 tháng, 240 cây con được trồng vào tháng 6 năm 2007). Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, 1 yếu tố, gồm 4 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, trồng với khoảng cách 2,5mx 2,5m (mật độ 1600 cây/ha), diện tích ô =120 m2. Phương pháp tạo tán: chặt thân và cành từ mặt đất lên trên 40 cm. Tạo tán lần 2 vào tháng 1 năm 2009 và lần 3 tháng 9 năm 2009. Sau đó tạo tán theo nghiệm thức thí nghiệm. 

2.5. Nghiên cứu chế độ tưới nước cho cây Jatropha

Sử dụng giống Jatropha của Singapore (trồng vào tháng 8 năm 2008). Phương pháp tưới nhỏ giọt, 1 tuần tưới 1 lần, 6 nghiệm thức, 3 lặp lại, diện tích ô TN = 80 m2 (20 cây/ô). Mật độ trồng 2.500 cây/ha (2m x 2m), trên nền bón lót cho 1 ha: 5 tấn phân chuồng (2 kg/cây) và 100g Ure + 170g Super lân + 110g Kali cho 1 cây,

2.6. Nghiên cứu chế độ bón phân cho cây Jatropha

Sử dụng giống Jatropha của Singapore (trồng vào tháng 8 năm 2008). Bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, ba yếu tố phân bón N, P, K (N (g): N0: N1:N2 = 0:40:80; P2O5: P0:P1:P2 = 0:50:100; K2O: K0:K1:K2 = 0:50:100) với 27 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, diện tích ô TN = 36 m2 (9 cây/ô). Mật độ trồng 2.500 cây/ha (khoảng cách 2m x 2m), trên nền bón lót 5 tấn phân chuồng cho 1 ha (2 kg/cây). Lượng phân được chia làm hai lần bón, một nửa bón đầu mùa mưa (tháng 5) và nửa còn lại bón cuối mùa mưa (tháng 10).

2.7. Phương pháp xử lý thống kê

Các số liệu thu thập từ các thí nghiệm được phân tích ANOVA và trắc nghiệm phân hạng LSD ở mức α = 0,05 hoặc α = 0,01 nhờ phần mềm MSTATC version 1.2 (1991), biểu đồ và đồ thị được vẽ theo phần mềm  Excel 6.0.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát tập đoàn giống Jatropha trong nước và nhập nội

Tập đoàn giống gồm 47 mẫu giống, trong đó có 14 mẫu giống được thu thập tại nhiều tỉnh trong nước và 33 mẫu giống có nguồn gốc từ nước ngoài. Do quá trình thu thập các giống trong nhiều thời điểm khác nhau nên việc trồng để khảo sát đánh giá sinh trưởng và năng suất của các giống jatropha được tiến hành thành nhiều đợt.

3.2. Khảo sát tập đoàn trồng năm 2007

Qua 2 năm theo dõi, giống AĐ 07-1 có năng suất cao nhất đạt 1713 kg/ha; tiếp theo là giống TQ 07-5 có năng suất đạt 1580 kg/ha. Giống VN 07-6 có năng suất thấp nhất chỉ đạt 1102 kg/ha.

3.3. Khảo sát tập đoàn trồng năm 2008

* Đợt thứ nhất trồng tháng 6 năm 2008:

Trong năm thứ 4 năng suất giống AĐ 07-8 cao nhất đạt 2459 kg/ha, tiếp đến là giống AĐ 07-16 đạt 1625 kg/ha, giống AĐ 07-9 đạt 1613 kg/ha. Năng suất thấp nhất là giống VN 07-13 chỉ đạt 847 kg/ha. Khối lượng 100 hạt và hàm lượng dầu của các giống jatropha thay đổi không nhiều giữa năm thứ 3 và năm thứ 4. Trong đó giống AĐ 07-9 có khối lượng 100 hạt và hàm lượng dầu cao nhất đạt 79,2g và 33,2%.

* Đợt thứ hai trồng tháng 9 năm 2008:

Ở năm thứ 4, năng suất của các giống khác biệt nhau rõ rệt. Giống Malaysia có năng suất cao nhất, đạt 2733 kg/ha; giống Brazil có năng suất thấp nhất, chỉ đạt 878 kg/ha; các giống còn lại như VN 08-54, VN 08-57, VN 08-88, S 08-87 và Senegal có năng suất trung bình từ 1017kg/ha-1246 kg/ha.

* Đợt thứ ba trồng trong tháng 11 năm 2008:

Ở năm thứ 4 sau khi trồng, năng suất cao nhất thuộc về giống VN 08-52 đạt 949 kg/ha, kế đến là giống AĐ 08-34 đạt 688 kg/ha và giống AĐ 08-24 đạt 615 kg/ha. Hầu hết các giống có khối lượng 100 hạt từ 68g-73g.

3.4. So sánh các giống jatropha curcas được trồng ở Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung

3.4.1. So sánh các giống jatropha curcas được trồng ở TT giống Trảng Bàng

Hai giống có khả năng sinh trưởng mạnh, năng suất hạt cao và hàm lượng dầu trung bình thích hợp cho vùng đất Tây Ninh là giống AĐ 07-1 (năng suất 1606 kg/ha, hàm lượng dầu 33,1%) và giống TQ 07-5 (năng suất 1553 kg/ha, hàm lượng dầu 34,2%).

3.4.2. So sánh các giống Jatropha curcas được trồng ở Duyên hải Miền Trung

Năng suất cao nhất qua 2 năm theo dõi cho thấy giống AĐ 07-1 (314kg) và giống S 07-10 (313kg) là 2 giống có năng suất hạt cao nhất. Giống đối chứng VN 07-6 (241kg) và giống VN 07-12 (209kg) có năng suất thấp nhất. Hàm lượng dầu cao nhất là 2 giống VN 07-13 (38,7%) và giống VN 07-2 (38,1%).

3.5. Nghiên cứu thời gian tạo tán và khoảng cách trồng cây jatropha

3.5.1. Thời gian tạo tán cây jatropha

Nghiệm thức tạo tán đầu mùa mưa cho năng suất cao nhất đạt 973 kg/ha trong năm thứ 4 và 1705 kg/ha trong năm thứ 5. Khác biệt so với nghiệm thức đối chứng và các nghiệm thức còn lại. Nghiệm thức không tạo tán có năng suất thấp nhất đạt 1103 kg/ha.

3.5.2. Khoảng cách trồng cây Jatropha

Qua 2 năm theo dõi thí nghiệm khoảng cách trồng cho thấy năng suất hạt ở mật độ trồng dày nhất (3333cây/ha) có năng suất cao nhất ở năm thứ 5 sau khi trồng (1789 kg/ha).

3.6. Nghiên cứu chế độ bón phân và tưới nước cho cây Jatropha

3.6.1. Chế độ tưới nước cho cây Jatropha

Năng suất hạt cao nhất trong năm thứ 3 thuộc nghiệm thức 2 (394 kg/ha) và nghiệm thức 3 (378 kg/ha). Năng suất hạt cao nhất ở năm thứ 4 thuộc nghiệm thức 4 (12 lít) đạt 1192 kg/ha.

3.6.2. Chế độ bón phân cho cây Jatropha

Trong 2 năm theo dõi với 27 nghiệm thức phân bón đối với cây jatropha trồng tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nhận thấy nghiệm thức N2P1K2 (80N-50P-100K) có năng suất cao nhất (đạt 1456 kg/ha), kế đến là nghiệm thức N1P1K2 (40gN-50gP-100gK) đạt 1413 kg/ha và nghiệm thức N1P2K2 đạt năng suất 1430 kg/ha.

4. KẾT LUẬN

Sau 4 năm trồng: Giống Malaysia có năng suất hạt cao nhất (2733 kg/ha và HLD đạt 32,2%). Giống có khả năng sinh trưởng mạnh, năng suất hạt cao và hàm lượng dầu trung bình thích hợp cho vùng đất xám Tây Ninh là giống AĐ 07-1 và giống TQ 07-5. Nghiệm thức tưới 12 lít/lần/tuần đạt năng suất hạt cao nhất 1192 kg/ha. Nghiệm thức N2P1K2 (80N-50P-100K) năng suất hạt cao nhất đạt 1456 kg/ha).

Sau 5 năm trồng: Nghiệm thức tạo tán vào đầu mùa mưa cho năng suất hạt cao nhất 1705 kg/ha. Với khoảng cách 2,0x1,5m (3333cây/ha) đạt năng suất hạt cao nhất 1789 kg/ha.

Xây dựng được biện pháp kỹ thuật tạm thời cho cây jatropha tại Tây   Ninh q
Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2017  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM