Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG LẠC CÓ NĂNG SUẤT CAO, PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN SINH THÁI
TỈNH TRÀ VINH

Nghien Cuu Tuyen Chon Giong Lac Co Nang Suat Cao Phu Hop Voi Dieu Kien Sinh Thai Tinh Tra Vinh

Ngô Thị Lam Giang, Thái Nguyễn Quỳnh Thư

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây có dầu và cây thực phẩm truyền thống  được trồng ở 115 nước trên thế giới. Trong số các loại cây có dầu ngắn ngày, cây lạc đứng thứ hai sau đậu tương về diện tích cũng như sản lượng.

Để đạt được mục tiêu quy hoạch phát triển của ngành dầu thực vật Việt Nam đề ra, việc nghiên cứu mở rộng diện tích và tăng năng suất lạc trở thành vấn đề cấp thiết.

Trà Vinh là tỉnh trọng điểm trồng lạc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2008 diện tích trồng lạc của Trà Vinh là 4.107 ha, năng suất 41,9 tạ/ha và sản lượng đạt 17.209 tấn. Theo kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng của Trà Vinh thì tới năm 2010 diện tích lạc tăng lên 7000-10.000 ha, tập trung tại các huyện Cầu Ngang, Trà Cú, Duyên Hải, Tiểu Cần và Châu Thành.

Sản xuất lạc ở Việt Nam nói chung và ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế chưa cao và cạnh tranh yếu. Đề tài chọn Trà Vinh là tỉnh nghèo, có tiềm năng phát triển cây lạc quy mô rất lớn đang gặp khó khăn về giống, kỹ thuật nên việc nghiên cứu tuyển chọn giống và kỹ thuật canh tác cây lạc chắc chắn mang lại hiệu quả cao về kinh tế và xã hội, góp phần giúp địa phương trong việc xóa đói giảm nghèo.

II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu tuyển chọn giống lạc có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái và thị trường của tỉnh Trà Vinh. 

2.2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm so sánh giống gồm có 16 nghiệm thức, MD7 làm đối chứng, bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD), 3 lặp lại, diện tích ô = 10m2, gieo 2 hạt/hốc, khoảng cách gieo 20x20cm.

Thời gian: Vụ Đông Xuân 2009-2010.

Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại hai điểm thuộc xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang và xã Ngọc Biên, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Đất thí nghiệm có thành phần cơ giới nhẹ, trong đó cát là chủ yếu, chất hữu cơ thấp, đất chua nhẹ (pH = 5,2).

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả nghiên cứu tại Cầu Ngang, Trà Vinh

Kết quả nghiên cứu tại xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh cho thấy, các giống khảo sát đều có thời gian sinh trưởng ngắn (85-90 ngày). Chiều cao cây của các giống tương đối thấp (16,7-24,2 cm), trong đó cao nhất là giống L12 (24,2cm). Số cành cấp 1/cây của các giống biến động không nhiều (4,1 - 5,5 cành/cây).

Số trái trên cây của các giống khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (biến động từ 11,3-19,3 trái/cây). Trong đó cao nhất là giống L07 (19,3 trái/cây), kế đến là giống L23 (17,2 trái/cây), thấp nhất là giống L12 (11,3 trái/cây), trong khi đó giống MD7 đối chứng đạt 12,7 trái/cây.

Khối lượng 100 hạt của các giống biến động từ  44,1- 60,7g. Trong đó L24 có khối lượng 100 hạt lớn nhất (60,7g), kế đến là giống L08 (55,3g) và thấp nhất là giống L07 (44,1g). Tỷ lệ nhân của các giống biến động từ 55,6-77,7%, trong đó giống L9801-3 có tỷ lệ nhân cao nhất (77,7%). Tỷ lệ hạt chắc của các giống biến động không nhiều, chỉ dao động từ 68,6 – 96,7% và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.

Năng suất của các giống khảo sát có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giống VD2 đối chứng. Năng suất trung bình của các giống lạc biến động từ 32,17-57,00 tạ/ha và đạt 71-125% so với đối chứng. Trong đó giống lạc L08 có năng suất cao nhất (57,00 tạ/ha, vượt đối chứng 25%), kế đến là giống L12 đạt 56,5 tạ/ha, thấp nhất là giống L9803-7 (đạt 32,17 tạ/ha).

3.2. Kết quả nghiên cứu tại Trà Cú, Trà Vinh

Kết quả nghiên cứu tại xã Ngọc Biên, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh cho thấy, các giống khảo sát đều có thời gian sinh trưởng ngắn (87-92 ngày), phù hợp cho tỉnh Trà Vinh. Do được tưới nước đầy đủ nên chiều cao cây của các giống trồng tại Trà Cú cao hơn tại Cầu Ngang. Chiều cao cây biến động từ (30,7-45,2cm), trong đó cao nhất là giống L16 (45,2cm), thấp nhất là giống VD01-1 (30,7cm). Số cành cấp 1/cây của các giống biến động từ 3,5-8,7 cành/cây.

Số trái trên cây của các giống khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (biến động từ 12,5-23,3 trái/cây). Trong đó cao nhất là giống MD9 (23,3 trái/cây), kế đến là giống L9804 (22,5 trái/cây), L07 (21,2 trái/cây), thấp nhất là giống L9803-8 (12,5 trái/cây).

Khối lượng 100 hạt của các giống biến động từ  42,4-68,9g. Trong đó giống L24 có khối lượng 100 hạt lớn nhất (68,9g), kế đến là giống L08 (62,0g), giống MD9 (59,4g), thấp nhất là giống L9803-7 (42,4g). Tỷ lệ nhân của các giống biến động từ 51,2-75,0%, trong đó giống ĐB3 có tỷ lệ nhân cao nhất (75,0%), kế đến là giống VD01-2 (74,2%), giống VD2 (73,7%), thấp nhất là giống MD9 (51,2%). Tỷ lệ hạt chắc của các giống biến động nhiều, dao động từ 55,2-95,5%. Trong đó giống có tỷ lệ hạt chắc cao nhất là VD01-2 (95,5%), kế đến là giống VD2 (94,9%), thấp nhất là giống L07 (55,2%).

Năng suất của các giống khảo sát khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giống MD7 đối chứng. Năng suất trung bình của các giống lạc biến động từ 27,83-50,78 tạ/ha và đạt 65-119% so với đối chứng. Trong đó giống lạc VD01-2 có năng suất cao nhất (50,78 tạ/ha, vượt đối chứng 19%), kế đến là giống L12 và L24 vượt đối chứng 14%, giống L08 vượt đối chứng 10%, thấp nhất là giống L9804 (đạt 30,89 tạ/ha). Các giống L07, L23, L24 và MD9 có tỷ lệ nhân và tỷ lệ hạt chắc còn thấp, cần tiếp tục khảo sát tính thích nghi và chế độ phân bón thích hợp nhằm nâng cao tỷ lệ nhân, tỷ lệ chắc để tăng năng suất của giống.

3.3. Đánh giá tác động của kết quả nghiên cứu 

Từ các giống lạc mới có năng suất cao được đề tài tuyển chọn và giới thiệu cho sản xuất góp phần tăng thu nhập cho người trồng, khuyến khích nông dân mở rộng diện tích trồng lạc. Ngoài ra trồng lạc còn góp phần cải tạo đất, tiết kiệm phân bón cho cây trồng vụ sau. Kỹ thuật trồng lạc đơn giản, dễ áp dụng, phù hợp với người dân vùng ĐBSCL và các tỉnh phía Nam.

Thông qua đề tài, các cán bộ tham gia sẽ được nâng cao trình độ, nâng cao năng lực cán bộ kỹ thuật về phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu triển khai, năng lực quản lý, tổ chức thực hiện cho chủ nhiệm đề tài và cán bộ thực hiện.

IV. KẾT LUẬN

Từ các thí nghiệm trong vụ Động Xuân 2009-2010, kết quả bước đầu cho thấy các giống VD01-2, L08, L12, L24 có hạt lớn, năng suất cao vượt đối chứng 14-25%. Đề tài sẽ tiếp tục nghiên cứu để có được kết luận chính xác, góp phần cung cấp giống mới cho sản xuất q

Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2012  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM