Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG, XÂY DỰNG QUY TRÌNH CANH TÁC VÀ MÔ HÌNH TRỒNG  CẢI DẦU THÍCH HỢP Ở  TỈNH LÂM ĐỒNG

Nghien Cuu Tuyen Chon Giong Xay Dung Quy Trinh Canh Tac Va Mo Hinh Trong Cai Dau Thich Hop

Nguyễn Thị Liên Hoa, Trần Thành Tân,

Lê Văn Sang và Đinh Viết Toản

                                                               

1. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Nhu cầu tiêu thụ dầu thực vật trên đầu người ở Việt Nam hiện nay không ngừng tăng. Nhằm đáp ứng được yêu cầu sản xuất dầu thực vật bằng nguồn nguyên liệu tự sản xuất trong nước, giảm bớt mức  độ lệ thuộc vào việc nhập khẩu dầu thực vật từ nước ngoài thì việc cần thiết trước tiên là phải phát triển vùng sản xuất các loại cây có dầu ở mức chi phí đầu tư hợp lý. Bên cạnh  các cây có dầu ngắn ngày truyền thống như lạc, vừng, đậu tương cần phải phát triển thêm cây có dầu mới như cải dầu (Brassica napus L.) là cây có khả năng cho hàm lượng dầu cao và được trồng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam đã nghiên cứu trồng thử cải dầu, những nghiên cứu lựa chọn giống và biện pháp canh tác đối với cây này còn rất ít, cần phải nghiên cứu đầy đủ về tuyển chọn giống thích hợp cho một số vùng sinh thái, biện pháp canh tác thích hợp để đạt năng suất cao và có hiệu quả kinh tế  mới có thể phổ biến cây cải dầu vào trong sản xuất. Từ vụ Đông Xuân 2006-2007 đến Thu Đông 2009, Viện bắt đầu tiến hành nghiên cứu có hệ thống về giống và kỹ thuật canh tác cây cải dầu ở tỉnh Lâm Đồng, Sơn La và Lạng Sơn. Trong bài viết này trình bày một số kết quả về nghiên cứu tuyển chọn giống, xây dựng quy trình canh tác và mô hình trồng cải dầu thích hợp ở tỉnh Lâm Đồng từ vụ Đông Xuân 2007-2008 đến Thu Đông 2009.

2. NỘI DUNG.

16 thí nghiệm về giống, phân bón và các biện pháp kỹ thuật trên diện hẹp và 3 mô hình trồng trên diện rộng được bố trí ở các huyện Bảo Lộc, Di Linh, Đơn Dương và thành phố  Đà Lạt, thuộc tỉnh Lâm Đồng trong vụ Thu Đông 2007, Đông Xuân 2007-2008 và Thu Đông 2009 để tuyển chọn được giống cải dầu tốt, xây dựng được quy trình canh tác và mô hình trồng cải dầu có năng suất, hàm lượng dầu cao và có hiệu quả kinh tế. Các thí nghiệm trên diện hẹp và diện rộng đều tuân thủ theo quy định của phương pháp thí nghiệm trên đồng ruộng.

3. KẾT QUẢ.

3.1 Tuyển chọn giống cải dầu có năng suất và hàm lượng dầu cao thích nghi trồng ở tỉnh Lâm Đồng.

Bên cạnh 2 giống tuyển chọn có năng suất, hàm lượng dầu cao và chất lượng dầu tốt (hàm lượng axít erucic <2%) đáp ứng được yêu cầu để chế biến dầu ăn là 07821-1RA và Hyola 61 của năm 2008 ở tỉnh Lâm Đồng, trong vụ Thu Đông 2009 chúng tôi nhập thêm một số giống ngắn ngày có tiềm năng năng suất cao từ Công ty Pacific Úc  như Hyola 433, Hyola 76 và Công ty Hubei Provincial Seed, Trung Quốc như HSR-13, HSR-14, HSR-15, HSR-32 và HSR-95 để thử nghiệm ở  huyện Di Linh nơi  có độ cao so với mặt nước biển là 900 m và có nhiệt độ trung bình của vụ Thu Đông từ tháng 9-12 (21,4oC)  và ở Đơn Dương có độ cao so với mặt nước biển là 1000 m và nhiệt độ trung bình (20,53 oC). Qua theo dõi khả năng thích nghi của 9 giống  cải dầu ở Lâm Đồng trong vụ Thu Đông 2009 ở 2 điểm nhận thấy nhiệt độ và độ cao đã ảnh hưởng rõ đến thời gian sinh trưởng, các đặc tính sinh trưởng, năng suất hạt cải dầu và hàm lượng dầu. Sinh trưởng phát triển, năng suất hạt và hàm lượng dầu của 9 giống cải dầu ở Đơn Dương tốt hơn ở Di Linh là do nhiệt độ có thấp hơn. Ở Di Linh tuyển chọn được 2 giống tốt nhất có năng suất hạt: 1900-2090 kg/ha, hàm lượng dầu: 34,68-41,79% và năng suất dầu: 726-794 kg/ha là Hyola 433 và HSR-95 với thời gian sinh trưởng ngắn: 96-100 ngày. Ở Đơn Dương tuyển chọn một số giống như HSR-13, Hyola 433 và HSR-32 có năng suất hạt cao: 2540-3130 kg/ha, hàm lượng dầu:41,13- 44,41% và năng suất dầu cao: 1110-1200 kg/ha, có chất lượng dầu rất tốt (hàm lượng axít oleic: 63,48-68,18 % và hàm lượng axít erucic: 0%) để chế biến dầu ăn và có thời gian sinh trưởng ngắn: 100-120 ngày. Thu Đông là vụ trong mùa mưa, sâu phá hoại không đáng kể, về bệnh nhận thấy xuất hiện bệnh đốm lá do nấm Alternaria brassicae và bệnh cháy lá do vi khuẩn  Xanthomonas sp. trong đó bệnh cháy lá do vi khuẩn  Xanthomonas sp. phát triển mạnh hơn bệnh đốm lá do nấm Alternaria brassicae;  tuy nhiên do đã phun ngừa trước  và phun thuốc kịp thời đã phòng trừ bệnh hiệu quả  nên bệnh chỉ phát triển ở các lá già bên dưới do các lá này nằm gần mắt đất đễ bị đất văng lên khi trời mưa nhưng bệnh không gây nhiễm đến các lá bên trên và quả trên cây. Trong 9 giống ở Di Linh, giống Hyola 433 và HSR-95 có tỷ lệ cây bị bệnh cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp. thấp nhất  còn ở Đơn Dương giống như Hyola 76, HSR-13, HSR-15 và HSR-31 có lá phía bên dưới  bị cháy lá nhiều. Xét về mức độ nhiểm bệnh, thì cải dầu trồng ở Đơn Dương có tỷ lệ cây bị  bệnh cháy lá  cao hơn ở Di Linh do điểm thí nghiệm ở Đơn Dương nằm trong vùng trồng nhiều loại cây họ thập tự  là những cây có cùng họ với cây cải dầu hơn ở Di Linh nên  nguồn bệnh từ trong đất  cũng nhiều hơn.

3.2 Quy trình canh tác cây cải dầu ở Lâm Đồng.

3.2.1  Phạm vi áp dụng của quy trình canh tác.

Áp dụng  cho việc canh tác cây cải dầu ở  Lâm Đồng và những điều kiện tương tự ở Tây Nguyên. Đất trồng cải dầu bao gồm đất Ferralsols (đất đỏ vàng) đất  Fluvisols (đất phù sa)  và đất  Luvisols (đất đen). Yêu cầu nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9 đến tháng 12:17-21oC, lượng mưa: 415-636 mm và nên ở độ cao trên 900m so với mặt nước biển. 

3.2.2 Quy trình canh tác.

Thời vụ trồng:

Thu Đông, là thời vụ thích hợp  để trồng cải dầu.  Bắt đầu trồng từ  đầu tháng 9 và thu hoạch trong tháng 12 và đầu tháng 1. 

Làm đất, lên luống:

Đất được xới 2 lần với độ sâu 15 cm kết hợp với bón lót 5 tấn phân bò/ha và 300 kg vôi/ha. Để phòng trừ sâu đất, cần xử lý đất với Basudin 10H (Diazinon) với liều lượng 10 kg/ha. Làm luống nổi có bề rộng  1 m và rãnh là 0,4 m để gieo 5 hàng với khoảng cách giữa 2 hàng là 20 cm. 

Bón lót phân:

- Bón lót phân vô cơ/ha: 60 kg P2O5+26 kg N(dạng phân SA) +30 kg K2O+ 1 kg B.

Giống cải dầu: 

Giống lai Hyola 433 có thời gian sinh trưởng:116-126 ngày, năng suất hạt: 1790-2430 kg/ha, hàm lượng dầu:41,69-46,24 %, axít oleic:67,17% và axít erucic: 0%

Gieo hạt:

Độ sâu gieo hạt: 1,5-2 cm đối với rạch hàng bằng tay, nếu dùng thiết bị gieo thì độ sâu gieo hạt là 1 cm. Lượng hạt giống: 3-4 kg hạt cải dầu/ha.

Chăm sóc:

- Xới phá váng sau khi gieo 15 ngày.

- Tỉa thưa sau khi gieo 20 ngày, tỉa với khoảng cách cây 10 cm (mật độ 50 cây/m2).

- Làm cỏ trước khi thúc phân. Thúc phân khoảng 25 ngày sau khi gieo. Lượng phân bón thúc/ha: 64 kg N (dạng phân urê) +30 kg K2O.

Tưới nước và tiêu nước:

Nếu cây gặp hạn vào giai đọan ra hoa và tạo hạt, cần phải bổ sung nước tưới. Cần tiêu nước kịp thời khi ruộng trồng cải dầu bị ngập do cải dầu chịu úng kém.

Phòng trừ sâu bệnh cho cây cải dầu:

- Phòng trừ sâu: Phun Callous 500 EC (profenofos) 2 lần cách nhau 7 ngày sau khi gieo 25 ngày để phòng trừ Bọ nhảy (Phyllotreta cruciferae Goeze).

- Phòng trừ bệnh:  Bệnh đốm lá (Alternaria brassicae), phun Manozeb (Mancozeb 80 %)  vào 20 và 35 ngày sau gieo  với liều lượng 20g/8 lít nước. Bệnh cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas sp., phun Daconyl 500SC (chlorothalonil) với liều lượng 25ml/8 lít nước vào 35 và 40 ngày sau gieo.

Thu hoạch:

Thu hoạch khi cây có khoảng 70% quả có màu vàng. Phơi quả cho khô để dễ tách hạt, hạt được sàng sẩy cho sạch đạt ẩm độ khỏang  8% trước khi bảo quản.

3.3 Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng cây cải dầu có năng suất và hiệu quả kinh tế ở Lâm Đồng. 

Dựa trên kết quả của các thí nghiệm về giống, phân bón và một số biện pháp canh tác của năm 2007 và 2008, mô hình được thực hiện với 3 giống  Hyola 61, Hyola 433 và 07821-1RA ở 3 điểm  trong vụ Thu Đông 2009. Mô hình được triển khai ở  xã Tam Bố huyện Di Linh có độ cao 900 m  và nhiệt độ trung bình trong vụ Thu Đông từ tháng 9-12: 21,4oC, xã Ka Đô, huyện Đơn Dương ở độ cao 1000 m và nhiệt độ trung bình: 20,53 oC và Phường 7, Đà Lạt ở độ cao 1500 m và nhiệt độ trung bình: 17,1oC. Kết quả mô hình cho thấy điều kiện nhiệt độ và độ cao  ảnh hưởng rõ đến thời gian chín, sinh trưởng và năng suất hạt và hàm lượng dầu. Mô hình trồng giống Hyola 433 đã cho năng suất hạt cao: 2300 kg/ha, năng suất dầu cao: 1010 kg/ha  và có lợi nhuận trong 4 tháng trồng là 13.603.000 đ/ha. Vùng trồng cây cải dầu có năng suất hạt, năng suất dầu cao và có hiệu quả kinh tế  nên trồng ở độ cao 1000 m so với mặt nước biển và nhiệt độ trung bình 20-21oC. Ở Úc giống Hyola 433 có năng suất hạt (1890- 2000 kg hạt/ha và hàm lượng dầu 41,3%) thì trong điều kiện khí hậu ở Lâm Đồng giống này có năng suất hạt trung bình (2300 kg/ha) và hàm lượng dầu trung bình (43,81%) trội hơn một ít; điều này chứng tỏ cây cải dầu thích hợp và  phát triển tốt ở Lâm Đồng. Khi đưa cây cải dầu vào cơ cấu cây màu ở vùng cao trong vụ Thu Đông sau khi thu họach cây màu Hè Thu  là vụ trồng chủ yếu dựa vào nước trời và có thời tiết phù hợp cho cải dầu sinh trưởng phát triển góp phần luân canh được cây trồng và mở rộng vùng nguyên liệu cây có dầu ngắn ngày q

Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2012  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM