Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

TRỒNG VÀ ĐÁNH GIÁ TẬP ĐOÀN GIỐNG VỪNG TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP

Trong Va Danh Gia Tap Doan Giong Vung Tai Tinh Dong Thap

Nguyễn Thị Hoài Trâm, Trần Ngọc Thông , Nguyễn Thị Thúy Anh,

Trần Thị Phương Nhung, và Đinh Viết Toản

 

Tóm tắt

Trồng và đánh giá tập đoàn giống vừng (Sesamum indicum L.)  đã được tiến hành tại tỉnh Đồng Tháp năm 2013 với mục tiêu chọn tạo được nguồn vật liệu khởi đầu tốt có năng suất và hàm lượng dầu cao . Thí nghiệm trồng 100 mẫu giống trong đó có 70 mẫu giống mè đen, 30 mẫu mè vàng. Kết quả thí nghiệm  chọn được số giống tiêu biểu như: VV3, VV8, VV16, VĐ 3, VĐ 13, VĐ 30 có thời gian sinh trưởng ngắn  dạng cây đẹp,  các  yếu tố câu thành năng suất số trái, số hạt đạt cao, có khả năng  chống chịu sâu bệnh và tỷ lệ đổ ngã thấp đây là nguồn vật liệu khởi đầu rất tốt để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.

 

1. MỞ ĐẦU.

Cây vừng (Sesamum indicum L), là loại cây công nghiệp ngắn ngày, với xu hướng phát triển tiêu thụ dầu có nguồn gốc thực vật và dầu vừng ngày càng tăng là cơ hội rất lớn để phát triển và mở rộng diện tích đối với cây vừng. Ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng đang đẩy mạnh phong trào phá thế độc canh cây lúa  luân canh theo cơ cấu lúa Đông Xuân sớm – vừng Xuân Hè – lúa Hè Thu cùng với những giải pháp phát triển mở rộng cây vừng ở khu vực ĐBSCL góp phần cải tạo đất, tăng thu nhập cho nông dân. Vì vậy việc nghiên cứu tìm kiếm các giống vừng có năng suất và chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu  về giống cho bà con nông dân đã được nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài tại tỉnh Đồng Tháp, bài viết này trình bày kết quả của thí nghiệm trồng và đánh giá tập đoàn giống vừng  được thực hiện năm 2013.

 

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

- Vật liệu: 70 giống vừng đen được thu thập từ trong và ngoài nước và từ nguồn gen của Viện được ký hiệu VĐ1 cho đến VĐ 70, 30 giống mè vàng được ký hiệu VV1 cho đến VV30.

- Phương pháp nghiên cứu. Trồng theo băng thí nghiệm gồm 100 nghiệm thức ứng với 100 ô, không lặp lại, diện tích mỗi ô là 1 m2. Mỗi ô gieo hàng cách hàng 25 cm, cây cách cây 10 cm, mỗi hốc 1 cây. Khoảng cách 2 ô là 0,25 m,  xung quanh thí nghiệm có luống bảo vệ.

- Xử lý số liệu bằng phương pháp MSTATC, Excel.

 

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.

- Về hình thái.

Đánh giá về hình thái của các giống thu thập nhập nội, các giống có tính đa dạng di truyền cao, phong phú và có một số giống có biểu hiện tính trạng tốt như, phân nhánh, số lượng trái trên mỗi nách lá nhiều, ảnh hưởng tốt tới năng suất hạt trên cây, khả năng cho năng suất cao. Kết quả về đánh giá hình thái của các giông thu thập cho thấy đây là nguồn vật liệu tôt để tiếp tục nghiên cứu các bước tiếp theo.

+ Màu sắc thân cây: Màu xanh gồm có 16 giống mè vàng và 24 giống mè đen, thân có màu xanh hơi vàng gồm tất cả 60 giống còn lại.

+ Kiểu tăng trưởng: Tất cả các giống thu thập đều có kiểu tăng trưởng không giới hạn.

+Lông của thân cây: Hầu hết tất cả các giống, thân đều không có lông; một số có nhiều lông như VV1, VV29, VV25, VV12, VV16, VV6, VV4, VV17, VV14, VĐ5, VĐ61, VĐ 25, VĐ 58, VĐ 36, VĐ 1, VĐ 23, VĐ 41; một số có lông trung bình VĐ 70, VĐ 21, VĐ 51; một số giống còn lại thưa lông VV3, VĐ 33, VĐ 34, VĐ 47, VĐ 48, VĐ 52, VĐ 60.

+ Hình dạng thân mặt cắt ngang: Tất cả các giống thu thập đều có mặt cắt ngang của thân là hình vuông.

+ Phân cành: Các giống mè vàng hầu hết phân nhánh theo kiểu đối xứng một số không phân nhánh như VV2, VV12, VV16, VV6, VV4, VV17, VV14. Các giống mè đen có một nửa số lượng giống phân nhánh theo kiểu đối xứng một nửa còn lại không phân nhánh. 

+ Màu sắc lá: Được ghi nhận vào thời kỳ đầu ra hoa, tất cả các giống thu thập đều có lá màu xanh trong đó có 23 giống có màu xanh hơi vàng gồm (9 giống mè vàng, 14 giống me đen).

+ Lông của lá: Đa số các giống mè vàng đều có lông trên lá một số giống có nhiều lông như VV6, VV4, VV3, VV17, VV25. Hầu hết các giống mè đen đều không có lông trong đó một số giống có lông  là VĐ 13, VĐ 33, VĐ 34, VĐ 36, VĐ 20, một số giống me đen có lông trên lá nhiều là VĐ 70, VĐ 61, VĐ 25, VĐ 19, VĐ 21, VĐ 58, VĐ 51, VĐ 1, VĐ 23, VĐ 41.

+ Hình dạng lá và mép lá: Hầu hết tất cả các giống thu thập có hình dang lá đa dạng phong phú tập trung vào ba hình dạng sau: Hình ovan, hình elip, và mũi mác. Mép lá chủ yếu lá nguyên và răng cưa.

+ Xẻ thùy: Xẻ thùy yếu có giống VV30, mạnh VĐ 33, trung bình VV27, tất cả các giống còn lại không xẻ thùy.

+ Màu sắc tràng hoa: Tất cả các giống thu thập nhập nội tràng hoa có màu sắc tập trung vào bốn màu sau đây; màu trắng gồm VV5, VV23, VV24, VĐ 4; màu hồng chỉ có giống VĐ 7, tất cả các giống còn lại tập trung vào hai màu trắng hồng lạc và trắng hồng đậm.

+ Số lượng trái trên mỗi nách lá: Đây là chỉ tiêu quan trọng  có khả năng ảnh hưởng tới năng suất số trái trên mỗi nách lá càng nhiều khả năng cho năng suất cao càng lớn. Một số giống thu thập có số trái trên mỗi nách lá nhiều hơn 1, mè vàng gồm: VV14, VV17, VV4, VV6, VV16, VV12, VV25, VV29, VV1, mè đen gồm MĐ 63, MĐ 41, MĐ 60, MĐ 23, MĐ 1, MĐ 3, MĐ 53, MĐ 36, MĐ 32, MĐ 57, MĐ 66, MĐ 25, MĐ 61, MĐ 70, MĐ 46, MĐ 7, MĐ 28, MĐ 20, MĐ 13.

+ Lông trên trái: Tất cả các giống đều có lông trên trái.

+ Nứt trái khi chín: Hầu hết các giống khi chín đều nứt trái một phần hoặc hoàn toàn.

+ Hình dạng hạt: Các giống  thu thập có hình dạng hạt hầu hết bầu dục với mặt lỏm.

- Về định lượng: Thí nghiệm trồng và đánh giá tập đoàn được thực hiện tại  Đồng Tháp từ 100 giống được thu thập nhập nội.

Kết quả 20 giống ưu tú được chọn lọc như sau:

* Các chỉ tiêu nông học.

+ Ngày ra hoa (sau gieo) là giai đoạn cây chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực, ra hoa sớm sẽ góp phần kéo dài thời gian ra hoa, làm tăng số hoa và làm tăng năng suất, đồng thời rút ngắn thời gian sinh trưởng.  Thời gian bắt đầu ra hoa của các giống vừng thí nghiệm biến động từ 22 đến 28 ngày sau gieo, một số giống có thời gian ra hoa sớm như VĐ 32, VĐ 60, VĐ 61, VĐ 66.

+Thời gian sinh trưởng của cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Đặc tính giống, thời vụ, điều kiện ngoại cảnh, dinh dưỡng, kỹ thuật canh tác và khoảng cách trồng. Thời gian sinh trưởng của các giống thí nghiệm biến động từ 71 đến 79 ngày một số giống chín sớm như là VV17, VĐ 20.

+ Chiều cao cây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng đáp ứng với điều kiện của giống, có liên quan đến đặc tính của giống, kỹ thuật canh tác và mùa vụ. Chiều cao cây ảnh hưởng đến số lượng quả trên cây.  Chiều cao cây của các giống vừng thí nghiệm biến động từ 84,7 cm đến 172,3 cm, trong đó thấp nhất là giống VĐ 53 và cao nhất là giống VĐ3.

+ Chiều cao đóng quả là khoảng cách từ gốc (đốt lá mầm) đến vị trí đóng quả đầu tiên. Là đặc tính quan trọng ảnh hưởng đến số lượng quả trên cây và ảnh hưởng đến khả năng cơ giới hóa khâu thu hoạch. Kết quả các giống thí nghiệm chiều cao đóng quả biến động 18,0 cm đến 45,3 cm.

* Các yếu tố cấu thành năng suất.

- Số quả trên cây là một trong những đặt tính quan trọng quyết định năng suất mè số quả càng nhiều thì khả năng cho năng suất càng cao. Kết quả số quả trên cây các giống thu thập có số lượng quả trên cây cao là: VV12 (116.3), VV16 (115), VĐ 46 (82), VĐ 13 (83), VĐ 3 (83.3).

- Số hạt trên quả : Số hạt trong quả của các giống vừng thí nghiệm dao động 45,6 hạt/quả đến 122,5 hạt/quả, một số giống có số hạt trên quả lớn là VV8, VV16, VĐ 3, VĐ 13.

- Trọng lượng 1000 hạt cũng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành năng suất hạt. Kết quả trọng lượng 1000 các giống thí nghiệm có kết quả cao, dao động từ 2,2 (g) đến 3,8 (g).

- Năng suất hạt/cây là chỉ tiêu quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất của từng giống mè. Kết quả thí nghiệm năng suất hạt/cây biến động 3.1 (g) đến 5.3 (g). Một số giống có năng suất hạt/cây cao VV3, VV8, VV16, VĐ 3, VĐ 13, VĐ 30, đây là kết quả tốt tạo nguồn vật liệu cho các thí nghiệm tiếp theo.

 

4. KẾT LUẬN

- Thí nghiệm trồng và đánh giá tập đoàn tại Đồng Tháp chọn được một số giống có tiềm năng năng suất, hàm lượng dầu cao trong đó:

+ Số quả trên cây: một số giống có số lượng quả trên cây cao như VV12 (116.3 quả), VV16(115 quả), VĐ 46 (82quả), VĐ 13 (83 quả), VĐ 3 (83.3 quả).

+ Số hạt trên quả : một số giống đạt cao như VV8, VV16, VĐ 3, VĐ 13.

+ Năng suất hạt/cây: Một số giống có năng suất hạt/cây cao VV3, VV8, VV16, VĐ 3, VĐ 13, VĐ 30 đây là kết quả tốt, một số giống ưu tú ở trên được chọn làm nguồn vật liệu khởi đầu cho các thí nghiệm tiếp theo.

Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2017  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM