| Nguyễn Đăng Phú, Phạm Mạnh Đoàn, Lại Văn Sấm, Nguyễn Thị Mỹ Linh Tóm tắt Dự án ứng dụng và phát triển mô hình trồng xen trong vườn dừa được thực hiện trong 2 năm (2007-2008) trên đất nghèo dinh dưỡng ở huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh với tổng số vốn đầu tư là 1 tỷ đồng bao gồm xây dựng chuồng trại cho cá sấu, bò thịt và ba ba và các chi phí khác như con giống, công lao động và vật liệu khác. Kết quả của dự án cho thấy: - Tất cả vật nuôi như cá sấu, ba ba và bò vàng địa phương nuôi trong vươn dừa sinh trưởng tốt và thích nghi với điều kiện nuôi; - Đánh giá kết quả ban đầu về hiệu quả kinh tế của các mô hình cho thấy: mô hình nuôi cá sấu cho thu nhập cao nhất, khoảng 585 triệu đồng, nhưng do chi phí đầu tư cao nên lợi nhuận thu được thấp nhất, 8 triệu đồng trong khi đó mô hình nuôi bò vàng địa phương và ba ba có thu nhập 195 và 211 triệu đồng và lợi nhuận thu được lần lượt 37 và 51 triệu đồng. - Bên cạnh đó, việc phát triển mô hình nuôi trong vườn dừa tạo nhiều việc làm hơn và cải thiện thu nhập của các hộ nông dân. APPLICATION AND DEVELOPMENT COCONUT INTERCROPPING MODELS FOR HIGH ECONOMIC RETURN AT TRANG BANG VARIETY PRODUCTION CENTER Abstract Project on establishing and developing multiple farming models in coconut garden was conducted in two years (2007-2008), in infertile soil area of Trang Bang district, Tay Ninh province with total investment of 1 billion dong including fix cost such as constructing crocodile and turtle ponds, and other variable costs such as breeding animals, labors and other materials. The results showed that: - All domestic animals such as crocodiles, turtles and local yellow beef in coconut garden were good and adaptable to local and farming conditions; - Primary assessments on models’ economical effect showed that: the model of crocodile gave the highest total income, about 585 million dongs, but due to high input costs leading to lowest net return of 8 million dongs while models of local yellow beef and turtle farming gave total income of 195 and 211 million dongs and net return of 37 and 51 million dongs, respectively. - Beside, developing of multiple farming models in coconut garden created more employment and improved income of the farm households. 1. MỞ ĐẦU Trung tâm sản xuất giống Trảng Bàng là một đơn vị trực thuộc Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, Bộ Công thương. Với diện tích 100 ha thuộc địa phận huyện Tràng Bàng, tỉnh Tây Ninh thuộc loại đất xám bạc màu, rất nghèo dinh dưỡng. Phần lớn diện tích đất canh tác được sử dụng ở dạng trồng thuần trong khi đó nhiều mô hình đa canh tổng hợp trong vườn dừa lại đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, nhất là đối với những sản phẩm có giá trị cao như ba ba, cá sấu, bò thịt… và rất phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp vùng ven đô. Vì vậy, để sử dụng có hiệu quả hơn diện tích đất canh tác và đội ngũ cán bộ công nhân viên của Trung tâm thì việc đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trong vườn dừa là rất cần thiết, phù hợp với xu thế đô thị hóa ở vùng ven đô thị lớn và hướng tới việc thực hiện Nghị định 115/CP của chính phủ đối với các đơn vị khoa học công nghệ trong thời gian tới. 2. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MÔ HÌNH 2.1. Lựa chọn mô hình và quy mô nuôi thả 2.1.1. Lựa chọn mô hình nuôi trồng xen thích hợp trong vườn dừa tại Trảng Bàng Nhìn chung, có rất nhiều mô hình đa canh khác nhau trong vườn dừa cho hiệu quả kinh tế cao, như mô hình trồng xen ca cao hoặc cây ăn trái trong vườn dừa, mô hình VAC trong vườn dừa… Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi vùng mà có thể lựa chọn mô hình thích hợp, cho hiệu quả cao. Huyện Trảng Bảng, tỉnh Tây Ninh nằm sát địa bàn huyện Củ Chi, thành phồ Hồ Chí Minh là địa phương vùng ven đô thị lớn, đang chịu tác động mạnh của quá trình đô thị hóa và công nghiệp. Do vậy, việc lựa chọn những loại vật nuôi có giá trị cao để đưa vào mô hình như cá sấu, ba ba, bò thịt là hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội của vùng. Các mô hình lựa chọn bao gồm: - Mô hình vườn dừa kết hợp với nuôi ba ba. - Mô hình vườn dừa kết hợp với nuôi cá sấu. - Mô hình vườn dừa kết hợp với trồng cỏ và nuôi bò thịt. - Vườn dừa trồng thuần làm đối chứng. 2.1.2. Quy mô của mô hình - Mô hình vườn dừa kết hợp nuôi ba ba: có 4 ao nuôi thả với kích thước mỗi ao là 8m x 25m, số lượng ba ba giống nuôi thả năm đầu là 1000 con với tiêu chuẩn con giống 3,5 gam/ con. - Mô hình vườn dừa kết hợp nuôi cá sấu: kích thước chuồng nuôi 8m x 20m, gồm 6 chuồng. Lượng cá sấu giống nuôi thả 40 con/ chuồng, tổng số con đợt 1 là 160 con, đợt 2 là 103 con và tiêu chuẩn cá sấu giống 4-5 kg/ con. - Mô hình vườn dừa kết hợp trồng cỏ nuôi bò: quy mô trồng cỏ là 1 ha, số lượng bò thả là 10 con, tiêu chuẩn bò 1 năm tuổi. 2.2. Hiệu quả kinh tế của các mô hình 2.2.1. Thu nhập của các mô hình Trong các tháng đầu năm 2007 các họat động chủ yếu tập trung vào việc xây dựng chuồng trại nên việc nuôi thả các loại vật nuôi trong các mô hình chỉ được thực hiện từ tháng 7/2007. Do vậy, để có thể đạt được kích thước, khối lượng tiêu chuẩn có thể xuất chuồng cần phải có đủ thời gian. Vì vậy, phải đến cuối 2009 thì phần lớn vật nuôi trong các mô hình mới có thể xuất chuồng, nhất là đối với cá sấu và ba ba. Như vậy, tùy thuộc vào thời gian nuôi thả và tình hình tăng trưởng của đàn vật nuôi có thể đánh giá thu nhập của các mô hình vào 3 thời điểm, đó là 30/12/2008 là thời điểm kết thúc dự án; 30/6/2009 là thời điểm mà phần lớn vật nuôi đủ thời gian, kích thước và khối lượng xuất chuồng; và thời điểm 31/12/2009 là thời điểm phù hợp cho số cá sấu nuôi thả muộn nhất có thể xuất chuồng (Bảng 7). i) Thu nhập của các mô hình đến 31/12/2008 Đến thời điểm cuối năm 2008, các kết quả theo dõi đánh giá cho thấy: Đối với ba ba: trong tổng số nuôi thả 1000 con, với tỷ lệ hao hụt 8% thì đến thời điểm cuối năm 2008 còn 920 con với khối lượng trung bình đạt 0,7 kg/ con, nếu tính với giá bán loại 2 thì tổng thu nhập của đàn ba ba đạt trên 98,5 triệu đồng. Khối lượng trung bình ba ba có thể xuất bán là từ 1.2-1.5 kg/ con. Đối với cá sấu: trong tổng số 260 con, có 157 con nuôi thả đợt đầu (tháng 7/2007) đạt khối lượng trung bình 19.5 kg/ con, số con thả đợt 2 chỉ đạt khối lượng trung bình 7 kg/ con. Tuy nhiên, nếu tính khối lượng tổng đàn đến cuối năm 2008 và với giá bán trung bình 90.000 đồng/ kg thì tổng thu nhập của đàn cá sấu trên 340 triệu đồng. Đối với đàn bò thịt: tổng đàn mua và nuôi thả là 10 con cái sinh sản, và trong thời gian nuôi hơn 1 năm đã sinh thêm 6 con bê cái đưa tổng đàn lên 16 con cái. Qua theo dõi đánh giá tình hình tăng trưởng của đàn bò mẹ và đàn bê con cho thấy, đến cuối tháng 12 năm 2008 khối lượng trung bình của đàn bò mẹ gần 265kg/ con và đàn bê con là 110 kg/ con đưa khối lượng tổng đàn lên trên 3300 kg. Nếu tính với giá trung bình 50.000 đồng/ kg thì tổng thu nhập của đàn bò thịt đạt trên 165 triệu đồng. Như vậy, tính đến cuối năm 2008 tổng thu nhập của các mô hình ba ba, cá sấu, và bò thịt đạt khoảng 602,475 triệu đồng, đạt 60% so với tổng kinh phí của dự án đầu tư. ii) Ước tính thu nhập của các mô hình đến cuối tháng 6/2009 Đối với đàn ba ba: ước tính có khoảng 30% tổng đàn đạt khối lượng trung bình 1.5 kg/ con, số còn lại đạt khối lượng trung bình 1.2 kg/ con. Nếu tính với giá trung bình là 187.000 đồng/ kg đối với ba ba loại 1 (1.5 kg/ con) và 153.000 đồng/ kg đối với ba ba loại 2 (1.2 kg/ con) thì tổng thu nhập của đàn ba ba trên 195 triệu đồng. Đối với đàn cá sấu: dự kiến đến thời điểm cuối tháng 6/2009 khối lượng trung bình của đàn cá sấu nuôi đợt 1 sẽ đạt 25 kg/ con và đối với đàn cá sấu nuôi thả đợt 2 đạt 15 kg/ con thì khối lượng của đàn cá sấu đạt gần 5500 kg. Nếu tính với giá trung bình là 90.000 đồng/ kg thì tổng thu nhập của mô hình này là 492,3 triệu đồng; Đối với đàn bò thịt: nếu đến thời điểm giữa năm 2009 không có bê con sinh thêm và khối lượng trung bình của đàn bò gần 265 kg/ con thì tổng khối lượng đàn bò đạt trên 4200 kg, với giá bán trung bình 50.000 đồng/ kg thì tổng thu nhập từ đàn bò thịt đạt trên 211 triệu đồng. Như vậy, tính đến tháng 6/2009 tổng thu nhập của các mô hình đạt gần 900 triệu đồng, đạt 90% so với tổng kinh phí của dự án đầu tư. iii) Ước tính thu nhập của các mô hình đến cuối tháng 12/2009 Tính đến thời điểm cuối tháng 12/2009 chỉ còn đàn cá sấu nuôi thả đợt 2 bắt đầu cho thu hoạch. Nếu tính giá trung bình 90.000 đồng/ kg và tổng khối lượng của đợt nuôi thứ 2 là 2.575 kg thì thu nhập đạt trên 231 triệu đồng, đưa tổng thu nhập của đàn cá sấu 260 con lên 585 triệu đồng. Như vậy, tính đến thời điểm cuối năm 2009 dự tính tổng thu nhập của các mô hình đạt gần 1 tỷ đồng (gần 100%) so với tổng kinh phí đầu tư của dự án. 2.2.2 Hiệu quả kinh tế của các mô hình theo thời gian Bảng 1. Hiệu quả kinh tế của mô hình tính đến thời điểm cuối tháng 12/2009 | Mô hình | Các khoản chi phí (1000 đồng) | Tổng chi (1000đ) | Tổng thu (1000đ) | Lãi thuần (1000đ) | | Xây dựng | Vật tư | Lao động | Chi khác | | Ba ba | - | 107.176 | 45.200 | 6.435 | 158.811 | 195.656 | 36.845 | | Cá sấu | 26.000 | 489.317 | 48.800 | 12.800 | 576.917 | 585.000 | 8.083 | | Bò vàng | 31.000 | 104.352 | 18.800 | 6.120 | 160.272 | 211.680 | 51.408 | | Tổng cộng | 57.000 | 700.845 | 112.800 | 25.355 | 896.000 | 992.336 | 96.336 | Đến thời điểm này, tổng chi phí đầu tư cho các mô hình gần 900 triệu đồng (chi phí xây dựng chuồng trại cho cá sấu được khấu hao trong 10 năm), trong đó có gần 580 triệu đồng đầu tư cho mô hình cá sấu. Thu nhập của mô hình cá sấu cao hơn cả, đạt 585 triệu đồng, tuy nhiên do đầu tư lớn nên lãi thuần rất thấp, khoảng 8 triệu đồng. Các mô hình nuôi bò thịt và ba ba tuy cho tổng thu nhập biến động từ 195 đến 211 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với mô hình nuôi cá sấu, nhưng do chi phí đầu tư thấp hơn nên lãi thuần của mô hình ba ba đạt gần 37 triệu đồng và mô hình bò thịt đạt hơn 51 triệu đồng, cao hơn hẳn so với nuôi cá sấu (Bảng 1). 2.2.3. Hiệu quả đầu tư của dự án Như vậy, từ thực tế đầu tư cho các mô hình và ước tính khả năng cho thu hoạch với giá tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng đã ký với ba ba và cá sấu, và giá bán bò hơi thịt vào thời điểm này thì tổng thu nhập của dự án đạt trên 992 triệu đồng và lãi thuần đạt trên 96 triệu đồng. Mô hình có khả năng thu hồi vốn nhanh là bò thịt, kế tiếp là ba ba, mô hình nuôi cá sấu cho thu hồi vốn chậm hơn do chi phí con giống cao và đầu tư chuồng trại lớn. Hiệu quả đầu tư nuôi bò thịt cao hơn cả, đầu tư 1 đồng nuôi bò thịt có thể thu được 1,3 đồng, kế đến là nuôi ba ba 1,2 đồng và nuôi cá sấu vừa đủ hoàn vốn. Bảng 2. Hiệu quả đầu tư của dự án | TT | Mô hình | Tổng chi (1.000đ) | Tổng thu (1.000đ) | Lãi thuần (1.000đ) | Tỷ lệ thu/ chi | Giá thành (1.000đ/ kg SP) | | 1 | Ba ba | 58.811 | 195.656 | 6.845 | 1,23 | 133,81 | | 2 | Cá sấu | 76.917 | 585.000 | 8.083 | 1,01 | 88,70 | | 3 | Bò vàng | 60.272 | 211.680 | 51.408 | 1,32 | 37,86 | | | Tổng cộng | 96.000 | 992.336 | 6.336 | 1,11 | | 3. KẾT LUẬN - Đầu tư xây dựng mô hình đa canh trong vườn dừa với việc đầu tư nuôi thả những vật nuôi có giá trị cao như ba ba, cá sấu, bò thịt là hướng đi đúng, phù hợp với xu thế đô thị hóa hiện nay, nhất là đối với vùng ven đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cư dân đô thị và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tại địa phương, tạo công ăn việc làm và cải thiện thu nhập cho người lao động; - Việc lựa chọn đối tượng áp dụng cho mô hình và triển khai thực hiện các hạng mục đầu tư, sử dụng kinh phí phù hợp với yêu cầu của dự án; - Đàn vật nuôi có khả năng thích nghi và tăng trưởng tốt trong điều kiện nuôi và chăm sóc tại địa phương; - Về hiệu quả kinh tế: đây chỉ là đánh giá kết quả bước đầu, để đánh giá đúng hiệu quả đầu tư của dự án cần phải tiếp tục theo dõi, đánh giá trong thời gian tới. Đặc biệt phải có kế hoạch sử dụng có hiệu quả đối với những chi phí đầu tư cố định như chuồng trại, ao hồ... |