Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ
BẢN TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU - 30 NĂM
XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN

Vien Nghien Cuu Dau Va Cay Co Dau 30 Nam Xay Dung Va Phat Trien

Nguyễn Trung Phong - Nguyên Viện trưởng

Tóm tắt

Bài viết đề cập lịch sử xây dựng và phát triển của Viện, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập từ tổ chức, cán bộ, nhiệm vụ đến các thành tựu trong nghiên cứu triển khai đóng góp cho sự phát triển của ngành dầu thực vật và áp dụng cho sản xuất. Phương hướng phát triển của Viện trong tương lai cũng đã được hoạch định nhằm xác lập mục tiêu cho các hoạt động khoa học kỹ thuật ở trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới.

OIL AND OIL PLANT INSTITUTE – 30 YEARS FROM ITS FOUNDATION TO THE CURRENT DEVELOPMENT

Nguyen Trung Phong

Abstract

The paper deals with the history of foundation and development of Institute of Research for Oil and Oil Plants in commemoration of its 30th establishing anniversary, from organization, personnel, etc…to obtain achievements in research to be transferred into vegetable oil sector and production. Directions for future development of the Institute are also outlined in the paper aiming at the establishing strategic targets of scientific activities at higher level to meet requirement of the country in new period.

1. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU

Cách đây 30 năm, ngày 17.07.1980 Trung tâm Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, nay là Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu đã được thành lập. Lúc đó Trung tâm là một đơn vị nghiên cứu khoa học chỉ gồm 02 bộ môn: Nông sinh học và Hóa chế biến – Phân tích, trực thuộc Viện Khoa học Việt Nam. Tháng 09.1981 Trung tâm được chuyển về Bộ Công nghiệp Thực phẩm, do Liên hiệp các Xí nghiệp Dầu thực vật Việt Nam quản lý. Từ tháng 01.1992 Viện được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Công nghiệp nhẹ. Trong năm đó, cùng với sự sắp xếp tổ chức lại ngành Dầu thực vật Việt Nam, Bộ Công nghiệp nhẹ đã có những định hướng phát triển mạnh mẽ đối với Viện, nhằm làm cho Viện có điều kiện đảm nhận những nhiệm vụ to lớn hơn. Kể từ năm 2003, Viện chính thức trở thành Viện trực thuộc Bộ Công nghiệp và nay là Bộ Công thương.   

Sau 30 năm hoạt động, đến nay Viện đã có 04 bộ môn nghiên cứu về Nông sinh học và Công nghệ chế biến gồm bộ môn cây có dầu ngắn ngày, bộ môn cây có dầu dài ngày, bộ môn Công nghệ sinh học, bộ môn Công nghệ dầu béo và phân tích. Viện có 03 phòng thực hiện chức năng quản lý, đó là phòng Tổ chức – Hành chính, phòng Tài chính  - Kế toán và phòng Kế hoạch Tổng hợp – Hợp tác quốc tế. Ngoài ra Viện còn có 03 trung tâm trực thuộc làm nhiệm vụ sản xuất thực nghiệm và áp dụng các nghiên cứu của Viện là: Trung tâm Dừa Đồng Gò, với diện tích 60 ha đặt tại tỉnh Bến Tre, chuyên lai tạo các giống dừa mới và chuyển giao sản phẩm giống cho nông dân, Trung tâm sản xuất giống Trảng Bàng, với diện tích 100 ha đất, đặt tại tỉnh Tây Ninh, làm nhiệm vụ sản xuất thực nghiệm các giống cây có dầu và tinh dầu ngắn ngày, Trung tâm Tư vấn Đầu tư Chuyển giao Công nghệ và Môi trường làm nhiệm vụ tư vấn xây dựng, đầu tư và chuyển giao kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng cho các đơn vị, và Trạm thực nghiệm Bình Thạnh, với diện tích 08 ha đất, tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, làm nhiệm vụ thực nghiệm các thí nghiệm đồng ruộng quy mô nhỏ, kết hợp du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học.

Đội ngũ cán bộ của Viện từ 30 người trong những năm đầu, hiện nay có khoảng 100 người, trong đó khoảng 60 cán bộ thuộc cơ cấu thường xuyên, còn khoảng 40 người là bộ phận làm việc linh hoạt và do các đơn vị tự trả lương. Hiện nay Viện có 11 cán bộ có trình độ trên đại học (tiến sĩ và thạc sĩ), 40 kỹ sư và nghiên cứu viên lâu năm được đào tạo chuyên sâu về dầu thực vật và các loại cây có dầu, còn lại là những kỹ thuật viên có tay nghề cùng với các cán bộ làm công tác quản lý.

Trong những năm qua, Viện đã có một số đóng góp vào sự phát triển của ngành dầu thực vật Việt Nam. Viện đã tổ chức công tác nghiên cứu và phát triển thành các đề tài nghiên cứu cũng như các dự án lớn như lạc, vừng, dừa; các cây như cọ dầu, điều, hướng dương, cải dầu; jatropha và các loại dầu béo thực vật cũng như tinh dầu cũng đã được nghiên cứu.

Giai đoạn 1986 – 1990. Viện đã hoàn thành tốt 04 đề tài cấp Nhà nước trong chương trình cây có dầu 02C do Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) chủ trì. Ngoài ra, Viện đã tham gia có hiệu quả chương trình Đồng bằng sông Cửu Long 60.02 và 60.B, đề tài tài nguyên đất Đồng Tháp Mười trong dự án Quốc gia “Điều tra đánh giá diễn biến tự nhiên kinh tế, xã hội vùng Đồng Tháp Mười sau 10 năm khai thác (1985 – 1995)”.

Giai đoạn 1991 – 1995. Viện được chính thức hoạt động trong các đề tài cấp Nhà nước thuộc các chương trình KN.01, KN.08, dự án Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên, khu kinh tế trọng điểm Nam bộ.

Giai đoạn 1996 – 2000. Viện thực hiện định hướng mới trong tổ chức nghiên cứu, chuyển mạnh sang nghiên cứu các công nghệ chế biến dầu thực vật, đồng thời tập trung nghiên cứu phát triển nguyên liệu (hạt có dầu, cây tinh dầu). Trong giai đoạn này, Viện thực hiện các đề tài: Chất lượng dầu béo Việt Nam, độc tố Aflatoxin trong lạc và dầu lạc, nghiên cứu sản xuất dầu bôi trơn khuôn đúc thép bằng hỗn hợp dầu thực vật, sản xuất dầu phanh ô tô từ dầu thầu dầu, nghiên cứu chế biến các sản phẩm từ quả điều (rượu điều, mứt điều…), từ dừa (thạch dừa, sữa dừa), quy trình sản xuất dầu dừa tinh khiết (VCO), tinh chế 1,8 – Cineol từ dầu tràm thô và sản xuất tinh dầu gừng để làm thuốc ho. Sử dụng phân chuyên dùng ACA và giống lạc mới VD1 được công nhận là giống quốc gia và cho phép sản xuất, giống lạc VD5 được công nhận là giống khu vực hóa (1999) đã được chuyển giao rộng rãi cho nông dân. Từ việc xác định đúng những hướng nghiên cứu triển khai mà các địa phương, các cơ sở sản xuất đang có yêu cầu, Viện đã khai thác tìm kiếm được nhiều nguồn đầu tư cho các dự án, đề tài.

Giai đoạn 2001 – 2005. Đây là giai đoạn Viện có nhiều sự phát triển so với trước đây. Viện được Nhà nước giao chủ trì thực hiện dự án “Phát triển sản xuất các giống dừa có năng suất, chất lượng tốt giai đoạn 2001 – 2005” với kinh phí được cấp là 11,75 tỷ đồng; dự án “Cải tạo, nâng cấp các cơ sở sản xuất thực nghiệm của Viện” với kinh phí được duyệt là 15,3 tỷ đồng, thực hiện gần 8 tỷ đồng. Với 02 dự án này bộ mặt các Trung tâm Đồng Gò và Trảng Bàng đã có nhiều thay đổi, các thiết bị nghiên cứu, phân tích được nâng cấp một bước, các phương tiện vận chuyển được trang bị mới hoàn toàn, vừa thay đổi bộ mặt cho Viện, vừa tạo điều kiện cho cán bộ nghiên cứu đi công tác được tốt hơn. Ngoài ra dự án dừa đã góp phần phát triển diện tích trồng dừa cho các tỉnh Nam Trung bộ và Nam bộ, làm thay đổi quan điểm của nông dân trồng dừa khi quan tâm hàng đầu về năng suất là phải có giống tốt. Đối với các cây có dầu ngắn ngày, các thành tích được ghi nhận là: Trong năm 2002 giống lạc VD2 được Hội đồng Khoa học Bộ NN & PTNT công nhận là giống quốc gia và cho phép phổ biến trong sản xuất; giống lạc VD6, VD7 được công nhận là giống tạm thời và phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh năm 2004; giống vừng V6 được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và cho phép đưa vào sản xuất tháng 12/2002; các giống đậu tương VDN1 và VDN3 được công nhận là giống khu vực hóa và giống tiến bộ kỹ thuật vào các năm 2002 và 2004. Cũng trong năm 2004, các giống dừa lai JVA1 và JVA2 cũng được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và được phổ biến trong sản xuất. Các giống hướng dương nhập nội thử nghiệm tính thích nghi cũng đạt nhiều kết quả khả quan, mở ra triển vọng cho việc phát triển thêm một loại nguyên liệu mới, có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, năm 2004 giống hướng dương Hysun 38 được Hội đồng Khoa học Bộ NN & PTNT công nhận là giống tạm thời.

Về chế biến, từ những nghiên cứu R&D cấp Bộ trong giai đoạn 1996 – 2000 được đánh giá cao về triển vọng áp dụng; trong năm 2004 – 2005, Bộ Công nghiệp đã cấp kinh phí thực hiện dự án P đề sản xuất dầu dừa tinh khiết (kinh phí 400 triệu đồng) và đề tài phối hợp với Sở Công nghiệp Bình Phước về chế biến toàn diện trái điều (kinh phí 230 triệu đồng).

Giai đoạn 2006 – 2010. Đây là giai đoạn Viện chuẩn bị bước vào thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ – CP của Chính phủ quy định về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị Khoa học – Công nghệ công lập. Do đó ngoài những đề tài, dự án do Bộ, Nhà nước đặt hàng, Viện đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu với các địa phương, đơn vị trong ngành dầu thực vật như: Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Bến Tre; Sở Khoa học & Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh; Công ty Dầu thực vật Hương liệu Mỹ phẩm VOCARIMEX; với Công ty Dầu thực vật Cái Lân và Công ty TNHH Chồi xanh. Những nghiên cứu này cho thấy điều kiện đất đai, khí hậu của Việt Nam có thể phát triển được các giống cây có dầu ngắn ngày truyền thống mới như vừng và cả những cây có dầu mới mà trước đây chỉ có thể trồng được ở vùng có khí hậu lạnh như hướng dương và cải dầu. Những hướng nghiên cứu này nhằm mở rộng đối tượng nguyên liệu cây có dầu và địa bàn hoạt động và tìm thêm nguồn kinh phí cho hoạt động Khoa học & Công nghệ cho Viện.    

Một đặc điểm nổi bật về công tác nghiên cứu Khoa học của Viện trong giai đoạn này là các đề tài không những tập trung vào việc phát triển nguyên liệu cây có dầu phục vụ cho mục đích thực phẩm mà còn chú ý đến những cây có dầu phục vụ cho mục đích làm nhiên liệu trong chương trình năng lượng xanh, nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường như đề tài “Nghiên cứu khả năng thích nghi của các giống cây có dầu mới sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất Biodiesel”, hay đề tài “Nghiên cứu phát triển cây Jatropha sử dụng làm nguyên liệu sản xuất dầu Biodiesel”. Ngoài ra cán bộ nghiên cứu của Viện còn quan tâm đến lĩnh vực cơ giới hóa trong sản xuất, thu hoạch và sơ chế các cây có dầu ngắn ngày bằng các đề tài liên quan đến ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ sau thu hoạch như các đề tài “Nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa và tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, cung ứng đậu phộng cho nông dân T.P hồ Chí Minh” với Sở Khoa học & công nghệ T.P Hồ Chí Minh, hoặc đề tài “Nghiên cứu ứng dụng cơ giới hóa trong khâu tách hạt hướng dương và xây dựng mô hình thâm canh cây hướng dương đạt hiệu quả kinh tế cao ở Tây Nguyên”. Những đề tài về ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ sau thu hoạch đã có định hướng đúng trong việc chọn lựa công nghệ và thiết bị phù hợp với quy mô canh tác của nông dân Việt Nam trong điều kiện đất đai hẹp và nhỏ lẻ, quy mô hộ và liên hộ gia đình. Nhờ những kêt quả nghiên cứu R&D nói trên và việc thực hiện thành công dự án dừa giai đoạn 2001 - 2005, Nhà nước đã cho phép Viện chủ trì một số nhiệm vụ và dự án về cây dừa như “Phát triển giống dừa có chất lượng cao giai đoạn 2009 – 2010”, đây là dự án dừa giai đoạn 2 và nhiệm vụ Khai thác nguồn gen dừa trong chương trình bảo tồn và phát triển cây có dầu mà Viện đã thực hiện liên tục trong nhiều năm qua.    

Hợp tác Quốc tế: Hoạt động hợp tác quốc tế của Viện ngày càng được tăng cường, mở rộng và đạt hiệu quả cao trên các lĩnh vực.

- Viện tham gia chương trình hợp tác giữa Việt Nam với Viện Quốc tế cây trồng cạn ICRISAT về cây lạc từ năm 1991 thông qua sự điều phối quốc gia của Bộ NN&PTNT. Trong những năm qua, chương trình này đã giúp Viện tuyển chọn có hiệu quả các giống lạc mới từ gần 300 giống nhập từ ICRISAT hoặc phục tráng từ giống địa phương.

- Hợp tác với Viện Dầu cọ Malaysia PORIM (nay là MPOB), được thiết lập từ năm 1992. Với sự hợp tác này, hàng năm có từ 1 – 2 cán bộ của Viện được mời đi học tập kinh nghiệm về trồng, chế biến và phân tích các sản phẩm từ dầu cọ tại MPOB.

- Hợp tác với Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế IPGRI (nay là Bioversity International) từ năm 1994 và được sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính, từ đó đã thiết lập được dự án nguồn gen cây dừa với tổ chức COGENT. Từ dự án này Việt Nam được đánh giá cao trong việc vận dụng các mục tiêu của dự án dừa là: lai tạo và sản xuất các giống dừa mới, năng suất cao; trồng xen, nuôi xen trong vườn dừa và đa dạng hóa các sản phẩm từ dừa nhằm gia tăng hiệu quả của việc trồng dừa, góp phần xoá đói giảm nghèo trong cộng đồng trồng dừa tại một số tỉnh Nam Trung bộ và Nam bộ như Bình Định, Bến Tre, Trà Vinh …

- Viện tham gia dự án “Nuôi cấy phôi dừa để nhân dòng và trao đổi giống dừa an toàn” do Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế của Úc (ACIAR) tài trợ gồm 05 nước Úc, Philipinnes, Việt Nam, Papua New Guinea và Indonesia cùng tham gia trong 03 năm (từ 2003 – 2005). Qua việc thực hiện dự án, viện được tăng cường các thiết bị cho công tác nuôi cấy mô, phôi dừa.

- Với những kết quả và kinh nghiệm hiện có trong việc thực hiện các dự án Hợp tác Quốc tế, cho đến nay đã có nhiều cán bộ nghiên cứu của Viện mạnh dạn xây dựng và đệ trình nhiều dự thảo dự án cho Nhà nước Việt Nam trên tinh thần Nghị định thư giữa các Quốc gia hoặc các tổ chức như Chương trình Hợp tác Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (CARD, UNDP… xem xét tài trợ. Nhờ vậy, trong thời gian qua đã có thêm một số đề tài, dự án được phê duyệt đã và đang thực hiện (giai đoạn 2006 – 2010) và kéo dài những năm sau 2010 như: Đề tài “Chiến thắng đói nghèo tại các cộng đồng trồng dừa: Sử dụng tài nguyên di truyền cây dừa để mưu sinh bền vững ở Việt Nam” với Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế IPGRI. Dự án “Thay thế phân bón hóa học N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt Nam để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường” hợp tác với Sở các ngành Công nghiệp cơ bản bang New South Wales do Chương trình Hợp tác Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (CARD) của Úc tài trợ. Đây là dự án sử dụng công nghệ mới để tăng dinh dưỡng cho cây trồng thông qua chế phẩm cố định đạm cho cây họ đậu, chủ yếu là lạc và đậu tương, giảm chi phí cho người nông dân và góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường vì không sử dụng phân hóa học với kinh phí 211.700 đôla Úc do 04 Viện nghiên cứu trong nước thực hiện, Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu là đơn vị điều phối. Ngoài ra, trong khuôn khổ các Nghị định thư của Nhà nước Việt Nam với các nước, các nhiệm vụ “Phát triển công nghệ ứng dụng và đánh giá nguồn gen các cây có dầu” với Hàn Quốc cũng đã được thực hiện từ năm 2007 – 2009 với vốn đối ứng của Nhà nước Việt Nam là 1,3 tỷ đồng; Hoặc như nhiệm vụ Hợp tác nghiên cứu với Trường Đại học Khoa học Kỹ thuật Ứng dụng Bochum - Cộng hoà Liên bang Đức về “Nghiên cứu phát triển cây Jatropha để chế biến nhiên liệu sinh học tại Việt Nam” từ năm 2009 – 2012 với kinh phí vối đối ứng phía Việt Nam là 1,97 tỷ đồng, phía Trường Đại học Bochum hợp tác nghiên cứu phần chế biến, cung cấp thiết bị ép hạt dầu, quy trình công nghệ và thiết bị sản xuất thực nghiệm Biodiesel…, phía Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu đảm nhiệm nghiên cứu phần nông sinh học, bao gồm các vấn đề liên quan đến điều kiện tự nhiên, giống, kỹ thuật trồng, canh tác cây Jatropha...

2. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN

2.1. Phương hướng tổng quát   

Từng bước xây dựng triển khai và đẩy mạnh các nghiên cứu thử nghiệm chế biến dầu thực vật, các sản phẩm từ dầu và tinh dầu, đồng thời tiếp tục nghiên cứu phát triển sản xuất nguyên liệu (các cây có dầu truyền thống và các cây mới).

Các Bộ môn Nông sinh học của Viện đã có nhiều hoạt động khá hiệu quả về nghiên cứu, phát triển cây dừa, lạc, vừng sẽ tiếp tục đi sâu hơn nữa vào các cây này, đặc biệt là việc sản xuất các giống lai, cung cấp cho thị trường theo hướng ngày một cao hơn về nhu cầu, đồng thời mở rộng hơn đến các cây đậu tương, đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu và phát triển cây hướng dương, cây cải dầu, là những cây mới, có triển vọng, cung cấp những loại dầu có giá trị dinh dưỡng cao và có hiệu quả kinh tế. Ngoài ra cần đẩy mạnh việc nghiên cứu phát triển các loại cây có dầu phục vụ cho việc sản xuất nhiên liệu sạch trong tương lai như cây Jatropha.

Các Bộ môn chế biến công nghệ mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong giai đoạn 2006 – 2010 (cũng như giai đoạn 2001 – 2005) về nghiên cứu các sản phẩm từ cây có dầu và sản phẩm phụ của chúng, như đề tài: Chế biến bã cơm dừa làm nguyên liệu cho thức ăn gia súc, cải tiến công nghệ sản xuất bột sữa dừa, sản phẩm từ nước dừa già, sử dụng enzym chiết dầu cám gạo.. Tuy nhiên những sản phẩm này cũng chỉ mới dừng lại ở quy mô thí nghiệm hoặc pilot, mà chưa chuyển thành các sản phẩm thương mại hóa rộng rãi. Phương hướng của lĩnh vực này là đẩy mạnh chuyển giao công nghệ cho các đơn vị sản xuất ở các địa phương nhẳm mở rộng sản xuất và tạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm ngành dầu.

2.2. Những nhiệm vụ cụ thể

2.2.1. Xây dựng và tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật

Mặc dù ở một số lĩnh vực cán bộ của Viện khá mạnh nhưng nhìn chung đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật còn thiếu, một số bộ môn thiếu cán bộ đầu đàn (nhất là khối công nghệ chế biến). Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ của giai đoạn mới, Viện phải tăng cường năng lực, trình độ giải quyết các vấn đề công nghệ do sản xuất đặt ra, điều đó trước hết thể hiện ở năng lực và cơ cấu của đội ngũ cán bộ. Phải có chủ trương thu hút cán bộ giỏi, thực hiện đào tạo và đào tạo lại, hoặc đào tạo nâng cao đội ngũ hiện có.   

2.2.2. Đổi mới và hiện đại hóa thiết bị nghiên cứu

Nhờ sự quan tâm của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) cũng như các Bộ liên quan như Khoa học & Công nghệ, Kế hoạch & Đầu tư, Tài chính, NN & PTNT thông qua các dự án dừa giai đoạn I từ 2001 – 2005 và giai đoạn II từ 2009 – 2010, cũng như các dự án từ vốn đầu tư về Cải tạo, Nâng cấp Cơ sở vật chất và Năng lực nghiên cứu của Viện trong các giai đoạn từ 2003 – 2005 và giai đoạn từ 2009 – 2011, các dự án Xây dựng sủa chữa nhỏ và Tăng cường năng lực nghiên cứu hàng năm từ vốn sự nghiệp Khoa học, cơ sở vật chất của Viện đang ngày một khang trang, phòng thí nghiệm trung tâm của Viện đặt tại 171 – 175 Hàm Nghi được xây dựng mới, lắp đặt những thiết bị hiện đại và được bảo quản tốt như máy sắc ký khí, máy phân tích hàm lượng dầu nhanh trong hạt, máy xử lý phấn hoa dừa… đã và đang hoạt động tốt. Máy ly tâm tách 02 pha lỏng cùng lúc liên tục siêu tốc được trang bị từ năm 2004, máy ép dầu quy mô Pilot của Đức lắp đặt tại Trung tâm Trảng Bàng từ nguồn Hợp tác theo Nghị định thư cũng sẽ là những phương tiện đầu tay cho công tác nghiên cứu về chế biến ở phòng thí nghiệm và cả ở quy mô Pilot. Tuy nhiên, cần tranh thủ hơn nữa sự hợp tác quốc tế để có thêm các phương tiện nghiên cứu khác cũng như trang thiết bị văn phòng, phục vụ công tác nghiên cứu.

2.2.3. Gắn bó với sản xuất và mở rộng quy mô hoạt động

Một trong những định hướng mới của Viện do Bộ chủ trương là kết hợp chặt chẽ với các hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam VOCARIMEX. Do đó việc phát triển vùng nguyên liệu Viện phải gắn với các địa bàn thích hợp và phải ngày càng mở rộng ra. Trong những cây có dầu truyền thống như dừa, lạc, vừng thì cần đẩy mạnh nghiên cứu phát triển các giống vừng có năng suất và hàm lượng dầu cao như V6 để phục vụ cho công nghệ ép dầu ở quy mô hàng hóa của VOCARIMEX. Địa bàn mở rộng cây vừng, ngoài những vùng chuyên canh như An Giang, Bình Thuận thì cần tận dụng vùng đất nước trời, trồng lúa 01 vụ, không có hệ thống tưới tiêu như ở Long An và Đồng Tháp. Cần đẩy mạnh nghiên cứu giống đậu tương có hàm lượng dầu cao để đón đầu trong quy hoạch phát triển ngành dầu thực vật Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 khi VOCARIMEX xây dựng các nhà máy trích ly dầu đậu tương, thời gian đầu sử dụng đậu tương nhập và dần thay thế một phần nguyên liệu trong nước. Tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm trên diện rộng các giống hướng dương, cải dầu… nhằm tạo ra vùng sản xuất các cây có dầu ngắn ngày có triển vọng phát triển, tập trung ở Tây Nguyên và vùng Đông Bắc bộ như Hà Giang. Gắn với sản xuất có nghĩa là thực hiện các mối quan hệ:

a/ Hợp tác với các Sở Khoa học & Công nghệ, Sở NN & PTNT, Sở Công nghiệp các tỉnh thông qua quỹ hoạt động khoa học hoặc quỹ khuyến nông, khuyến công.

b/ Tổ chức các mô hình thử nghiệm trong dân, kết hợp với nông dân lâu dài để sản xuất nguyên liệu cây có dầu quy mô hàng hóa, cung cấp cho VOCARIMEX theo hợp đồng.

c/ Liên kết với các doanh nghiệp Nhà nước cũng như tư nhân trong sản xuất các sản phẩm mới, đặc thù  từ cây có dầu như VCO, chế phẩm tiền sinh (prebiotic) từ phụ phẩm bã cơm dừa.

2.2.4. Tiếp tục đẩy mạnh mở rộng, tăng hiệu quả các hợp tác quốc tế

Những năm vừa qua, Hợp tác quốc tế của Viện được thực thi khá hiệu quả. Trong giai đoạn mới cần thiết mở rộng hơn nữa các hợp tác này. Bên cạnh các hợp tác đã có, cần thiết chú ý mối quan hệ với các nước Úc trong chương trình Hợp tác Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, các nước như Đức, Ấn Độ trong việc phát triển cây có dầu làm nguyên liệu sử dụng nhiên liệu sạch (biodiesel), với các nước Mỹ La Tinh trong trường hợp phục hồi quan hệ với Mexico…Vừa thiết kế hợp tác song phương, vừa thuyết phục các tổ chức quốc tế tài trợ kinh phí ở dạng dự án, nghiên cứu thử nghiệm/khả thi (như ADB, IFAD..) để tạo thêm nguồn kinh phí hoạt động cho Viện cũng như từng bước nâng cao vị thế của Viện trong khu vực và quốc tế. Trong thời kỳ hội nhập, phát triển hợp tác quốc tế là cần thiết, nhưng nhất thiết phải bảo đảm cơ sở chính trị vững chắc, điều đó cần quán triệt cho cán bộ của Viện. Muốn làm tốt hợp tác quốc tế Viện cần có những cán bộ giỏi về năng lực chuyên môn, thành thạo ngoại ngữ và năng động trong tổ chức. Cần có chính sách động viên khuyến khích hợp lý những cán bộ như thế, xúc tiến nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cả đội ngũ của Viện.

3. KẾT LUẬN

Ba mươi năm – một thời gian không thật dài đối với đất nước và dân tộc, nhưng đủ lớn đối với hoạt động khoa học của tập thể một Viện nghiên cứu, đủ lớn trong cuộc đời của mỗi chúng ta trải qua 30 năm, Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu đã từng bước trưởng thành, được giao những nhiệm vụ ngày càng quan trọng, đặc biệt là tập trung vào nghiên cứu phát triển nguyên liệu cây có dầu, từng bước đáp ứng cho ngành công nghiệp chế biến dầu thực vật ngày càng phát triển nhanh chóng.

Cần nhấn mạnh một điều là từ khi Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu gia nhập đại gia đình Công nghiệp vào năm 1992 và nay là đại gia đình Công Thương đã mang một ý nghĩa và có định hướng khá quan trọng. Nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ, hiện nay Việt Nam đang bước vào giai đoạn hội nhâp với khu vực và quốc tế, đồng thời đất nước chúng ta cũng đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa, làm sao đến năm 2020, về cơ bản Việt Nam trở thành một nước công nghiệp. Vì vậy, phát triển ngành dầu thực vật phải dựa vào quy hoạch phát triển đã được Nhà nước phê duyệt. Các nghiên cứu của Viện cũng cần phải dựa vào việc quy hoạch này để hoạt động, nhằm có những đóng góp thiết thực hơn nữa cho sự phát triển của ngành.

Trong quá trình hoạt động, Viện luôn nhận được sự quan tâm hướng dẫn đặc biệt của lãnh đạo Bộ công nghiệp, (nay là Bộ Công thương), sự giúp đỡ hiệu quả của các Vụ chức năng của Bộ, của Đảng Ủy khối Cơ sở Bộ Công nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh, (nay là Đảng Ủy khối Doanh nghiệp Công nghiệp Trung ương tại TP. Hồ Chí Minh), Công đoàn ngành công nghiệp cũng như Liên đoàn Lao động TP. Hồ Chí Minh.

Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu vào năm 2010, năm cuối thập niên đầu của thế kỷ 21, năm có nhiều sự kiện có ý nghĩa trọng đại và chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, chúng ta đầy lòng tin tưởng ở sự lãnh đạo của Bộ Công thương, của Đảng Ủy khối, đầy lòng tin tưởng ở sự đoàn kết nhất trí, ý chí khắc phục khó khăn cùa tất cả mọi thành viên của Viện, quyết tâm xây dựng Viện ngày càng phát triển, góp phần phát triển ngành dầu thực vật – một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng của đất nước q

Các tin khác
Sản phẩm thương mại
Hai Giống Dừa Lai Năng Suất Cao JVA1 & JVA2
Sản Xuất Thành Công Giống Vừng V6
Sản Xuất Giống Lạc Mới VD2, VD6 Và VD7 Đạt Năng Suất Cao, Chất Lượng Tốt
Sản Phẩm Chế Biến Từ Quả Điều
Sản Phẩm Dầu Dừa Tinh Khiết VCO.
Trang chủ  |  Viện nghiên cứu  |  Nghiên cứu triển khai  |  Hợp tác quốc tế  |  Liên hệ   |  Liên kết website
Copyright © 2014  Viện Nghiên Cứu Dầu Và Cây có dầu . All rights reserved. Designed & developed by EMSVN.COM