Chi tiết

Ngành Công Thương khẳng định vị thế trụ cột của nền kinh tế trên nền tảng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

Hoạt động khoa học công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) trong những năm qua đã đóng góp thiết thực vào việc thực hiện các mục tiêu, kế hoạch phát triển của ngành Công Thương, thực hiện tái cấu trúc công nghiệp và thương mại. Giai đoạn 2021-2030, mục tiêu KHCN ngành Công Thương sẽ phát triển thực sự trở thành động lực quan trọng để xây dựng nền công nghiệp quốc gia hiện đại, góp phần tích cực phát triển thương mại theo hướng tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nhân dịp ngày KHCN Việt Nam 18/5, Tạp chí Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Lý Quốc Hùng - Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương về những hoạt động KHCN của ngành Công Thương nhằm đạt mục tiêu trên. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Ưu tiên hoạt động nghiên cứu  phát triển, ứng dụng
PV: Thưa ông, ngành Công Thương đã khẳng định được vị thế trụ cột của nền kinh tế ở lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Ông có thể chia sẻ về những đóng góp của KHCN và ĐMST trong sự phát triển của ngành Công Thương trong thời gian qua?
Ông Lý Quốc Hùng: Trong những năm qua, đóng góp của hoạt động khoa học công nghệ được thể hiện trên nhiều phương diện, từ việc cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ quá trình xây dựng, hoàn thiện định hướng, chính sách phát triển, công cụ quản lý nhà nước đối với từng ngành, từng lĩnh vực, cho tới thúc đẩy, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam thông qua việc hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Nghiên cứu khoa học với vai trò cung cấp luận cứ khoa học, thực tiễn đã góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành các chính sách, tạo ra những bước phát triển có tính đột phá trong tất cả các ngành, lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại nội địa, xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiều vấn đề mới, có tác động sâu, rộng tới phát triển ngành đều nhanh chóng được đưa vào nội dung nghiên cứu, luận cứ rõ ràng cho những chủ trương, chính sách mà Bộ và Chính phủ đưa ra, trở thành các quyết sách lớn, góp phần tạo cú hích cho mục tiêu tăng trưởng bền vững của ngành. Cuối giai đoạn 2016-2020, nhiều nghiên cứu đã tập trung đánh giá, phân tích tình hình triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, góp phần quan trọng trong việc xây dựng định hướng trong giai đoạn 2021-2030 như: Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương, Chiến lược xuất nhập khẩu, Chiến lược phát triển thị trường trong nước. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu trong giai đoạn này cũng góp một phần có ý nghĩa trong quá trình đàm phán, tham gia các Hiệp định thương mại tự do đa phương và song phương, hỗ trợ chính sách mở cửa và tham gia vào thị trường toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam...
Các nhiệm vụ nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ của Bộ Công Thương tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, quản trị sản xuất, phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị để tạo ra sản phẩm, hàng hóa thương hiệu Việt Nam có giá trị gia tăng và tính cạnh tranh cao trên thị trường. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đạt được những giải thưởng cao, có ý nghĩa to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như tạo lập vị thế về khoa học của Việt Nam trong khu vực và quốc tế, được vinh dự trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về KHCN.
Hoạt động nghiên cứu phát triển, ứng dụng đổi mới công nghệ, ĐMST trong các doanh nghiệp ngành Công Thương, đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến chế tạo được đẩy mạnh, đã có những bước tiến hết sức quan trọng. Nhờ đó, sản phẩm của Việt Nam không chỉ cơ bản đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hiện đã vươn ra thị trường thế giới. Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia có nền công nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) ở mức khá cao, thuộc nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao. Có thể khẳng định, các chính sách khoa học công nghệ cùng nhiều hoạt động hỗ trợ của nhà nước đã tạo ra những đóng góp quan trọng cho phát triển ngành, lĩnh vực cũng như từng doanh nghiệp, đặc biệt trong những năm gần đây.
Vụ Khoa học và Công nghệ được giao là đơn vị đầu mối, tham mưu cho Lãnh đạo Bộ Công Thương về công tác quản lý KHCN. Trong những năm qua, để đáp ứng nhiệm vụ và yêu cầu từ thực tiễn, Vụ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu, đề xuất Lãnh đạo Bộ nhiều giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý, tổ chức, hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, bám sát định hướng, chủ trương của Đảng, Chính phủ, chỉ đạo của Bộ về công tác KHCN, từ đó xây dựng, triển khai các hoạt động một cách hiệu quả. Với những đóng góp quan trọng và có ý nghĩa, Vụ Khoa học và Công nghệ đã vinh dự được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất giai đoạn 2016-2020.
PV: Được biết, Chiến lược KHCN và ĐMST phục vụ phát triển ngành Công Thương đến năm 2030 đã được phê duyệt. Để đảm bảo các mục tiêu, đến 2030, ngành Công Thương sẽ ưu tiên phát triển những lĩnh vực nào thưa ông?
Ông Lý Quốc Hùng: Chiến lược KHCN và ĐMST phục vụ phát triển ngành Công Thương đến năm 2030 đã được Bộ trưởng Bộ Công Thương ký ban hành tại Quyết định số 2795/QĐ-BCT ngày 30/10/2023, nêu rõ, ưu tiên hoạt động nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ mới, hiện đại, số hóa nhằm tạo sự đột phá về trình độ, năng lực sản xuất trong các ngành công nghiệp chủ lực, mũi nhọn, ưu tiên, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao; đặc biệt là hoạt động nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ với chính sách “bắt kịp”, tiến tới “dẫn dắt” về công nghệ đối với các doanh nghiệp sản xuất. Chú trọng hoạt động KHCN và ĐMST phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước.
KHCN và ĐMST là nền tảng quan trọng và khâu đột phá trong chính sách công nghiệp và thương mại để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh ngành Công Thương; tự chủ về công nghệ trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là các công nghệ then chốt; góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh đó, thúc đẩy mối quan hệ gắn kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp trong hoạt động KHCN và ĐMST. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm; viện nghiên cứu và trường đại học là các chủ thể nghiên cứu mạnh; cơ quan quản lý nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều phối, kiến tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng, hiệu quả cho hoạt động KHCN và ĐMST. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ ngân sách nhà nước và doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân cho hoạt động KHCN và ĐMST ngành Công Thương.
Tập trung tháo gỡ cơ chế chính sách cho KHCN
PV: Theo Chiến lược, mục tiêu đến năm 2030, nâng cao đóng góp của KHCN và ĐMST, góp phần xứng đáng vào việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng chung của ngành Công Thương đến năm 2030 như tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm; tốc độ tăng năng suất lao động công nghiệp đạt bình quân 7,5%/năm. Để triển khai chiến lược này, ngành Công Thương sẽ có những giải pháp gì?
Ông Lý Quốc Hùng: Để KHCN và ĐMST thực sự trở thành động lực, đóng góp vào các mục tiêu phát triển đất nước cũng như của ngành Công Thương, trước tiên, cần có những đổi mới mạnh mẽ về cơ chế, chính sách của Nhà nước trong giai đoạn tới. Hiện nay, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đang được xem xét sửa đổi. Trong thời gian qua, Vụ Khoa học và Công nghệ cùng các tổ chức khoa học công nghệ của Bộ đã tham mưu Lãnh đạo Bộ đề xuất những điểm cần sớm sửa đổi, bổ sung.
Cụ thể: Thứ nhất, về mặt quan điểm, Luật Khoa học và Công nghệ cần chuyển mạnh từ tập trung vào quản lý sang tạo ra hành lang để phát triển, khuyến khích, huy động sự tham gia, đóng góp của tất cả các cá nhân, tổ chức, thành phần trong xã hội, đưa nước ta trở thành một quốc gia phát triển dựa trên KHCN và ĐMST;
Thứ hai: Cần thay đổi cơ bản quan điểm và tư duy tiếp cận đối với các sản phẩm khoa học công nghệ nói riêng, hoạt động khoa học công nghệ nói chung để giải quyết nhiều vướng mắc hiện tại liên quan tới  khoán chi tới sản phẩm cuối cùng, xử lý tài sản hình thành từ các nhiệm vụ khoa học công nghệ, dự toán ngân sách đối với nhiệm vụ khoa học công nghệ...
Thứ ba: Nhanh chóng đổi mới tiếp cận trong phân công trách nhiệm quản lý, phối hợp tổ chức thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả trong quá trình triển khai, tránh việc chồng chéo, lãng phí nguồn lực, đồng thời phát huy vai trò quản lý theo ngành, lĩnh vực và địa phương cũng như vai trò của cơ quan đầu mối về công tác khoa học công nghệ của quốc gia. Bên cạnh đó, đảm bảo tính thống nhất giữa chính sách, quy định pháp luật trong lĩnh vực khoa học công nghệ với các quy định có liên quan; tiếp tục nghiên cứu để đề xuất với Chính phủ hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản sửa đổi, bổ sung để giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực thi Luật Khoa học và Công nghệ.
Về phía Bộ Công Thương, để triển khai Chiến lược, Bộ đã đề ra 05 nhóm giải pháp chủ yếu về: Cơ chế, chính sách, hệ thống quản lý KHCN và ĐMST; Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; Đầu tư và tài chính; Hợp tác, hội nhập quốc tế; Thông tin, truyền thông, hoạt động tôn vinh. Trong đó, đặc biệt tập trung vào giải pháp về cơ chế, chính sách, bao gồm: Tăng cường tham gia, phối hợp hiệu quả với các bộ, ngành liên quan để sửa đổi, hoàn thiện cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật về khoa học công nghệ và các luật liên quan phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra; trao quyền tự chủ cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học công nghệ nhằm giải phóng tiềm năng, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu, đi đôi với cơ chế đánh giá độc lập và giám sát xã hội, công khai kết quả nhiệm vụ khoa học công nghệ...; tạo dựng khuôn khổ pháp lý triển khai các cơ chế thí điểm, thử nghiệm và đặc thù đối với các mô hình kinh tế mới dựa trên KHCN và ĐMST.
Mặt khác, tiếp tục đổi mới toàn diện hoạt động quản lý, tổ chức triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ theo hướng công khai, minh bạch, khách quan, đơn giản hóa thủ tục. Thực thi có hiệu quả cơ chế ưu tiên đối với tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học công nghệ đạt thành tích xuất sắc...
Nâng cao năng lực quản trị nhà nước đối với hoạt động KHCN và ĐMST, kiến tạo môi trường thuận lợi, thúc đẩy mối liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học trong triển khai hoạt động KHCN và ĐMST. Hiện đại hóa, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ quản lý KHCN và ĐMST; chuyển đổi số quy trình quản lý; xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động KHCN và ĐMST, các nguồn lực KHCN và ĐMST ngành Công Thương nhằm phục vụ yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin cho các tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu.
Với các giải pháp khác, căn cứ trên tình hình thực tế của từng đơn vị mà cần chủ động, tích cực triển khai cho phù hợp, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Riêng với khối Viện, trường sẽ thực hiện tái cơ cấu theo lộ trình riêng.
Tái cấu trúc tổ chức KHCN ngành công thương có khả năng dẫn dắt về công nghệ
PV: Trong thời gian qua, các tổ chức KHCN ngành Công Thương đã đóng góp vai trò không nhỏ trong sự phát triển của ngành. Xin ông cho biết, trong Đề án tái cơ cấu các viện, trường của ngành Công Thương đến năm 2030, định hướng phát triển của các tổ chức này như thế nào?
Ông Lý Quốc Hùng: Bộ Công Thương hiện có 13 Viện nghiên cứu, trong số đó có 02 Viện đã thực hiện cổ phần hóa, hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, nhà nước giữ cổ phần chi phối. Nếu xem xét ở phạm vi ngành, có thêm 09 Viện nghiên cứu hiện trực thuộc các Tập đoàn/Tổng Công ty. Hầu hết các Viện trực thuộc Bộ Công Thương đều là những viện đóng vai trò đầu ngành, được thành lập và hoạt động trong nhiều năm qua. Trong số 11 Viện trực thuộc Bộ, ngoại trừ Viện Nghiên cứu chiến lược chính sách Công Thương có chức năng nghiên cứu về chiến lược, chính sách bao trùm cả trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, 10 Viện còn lại có phạm vi, lĩnh vực hoạt động tương đối độc lập, đi theo các lĩnh vực chuyên ngành.
Theo Đề án Tái cơ cấu các tổ chức khoa học công nghệ trực thuộc Bộ Công Thương giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 thì trong dài hạn, hình thành các tổ chức khoa học công nghệ công lập quy mô lớn, có tiềm lực mạnh so với các tổ chức khoa học công nghệ trong khu vực và trên thế giới để giải quyết các vấn đề khoa học công nghệ quan trọng, cốt lõi, có ý nghĩa quyết định tới năng lực cạnh tranh và khả năng dẫn dắt về mặt công nghệ cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước; Trong trung hạn, từng bước hình thành mô hình tổ chức khoa học công nghệ đa ngành có mức độ liên kết và tích hợp về mặt công nghệ cao. Còn trước mắt, tập trung thực hiện quá trình tái cơ cấu hệ thống các tổ chức khoa học công nghệ của Bộ song song với quá trình tái cơ cấu trong nội bộ các đơn vị. Gắn sứ mệnh hỗ trợ các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc nâng cao năng lực hấp thụ và từng bước nâng cấp trình độ công nghệ; gắn kết nghiên cứu với đào tạo, phát huy tối đa năng lực nghiên cứu của viện và cơ sở thực hành của các cơ sở đào tạo.
Vừa qua, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang ký Quyết định số 229/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học công nghệ công lập thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó, đến năm 2030, giảm 20% đầu mối các tổ chức khoa học công nghệ công lập trên cơ sở khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ; tập trung đẩy mạnh phát triển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên, then chốt để triển khai các hướng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mới.
Với định hướng chung của quốc gia và yêu cầu của tái cơ cấu các tổ chức khoa học công nghệ công lập trực thuộc Bộ, hiện nay, Bộ Công Thương đang tiến hành rà soát, xây dựng phương án trên nguyên tắc, việc sáp nhập đảm bảo khả năng tương hỗ, cộng sinh giữa các đơn vị để cùng phát triển; mục tiêu đến năm 2030, hình thành một hệ thống tổ chức khoa học công nghệ ứng dụng đa ngành, gắn với yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển các ngành, lĩnh vực ưu tiên và các xu hướng phát triển của ngành và công nghệ trên thế giới.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Hồ Nga (thực hiện)
Nguồn: https://tapchicongthuong.vn/nganh-cong-thuong-khang-dinh-vi-the-tru-cot-cua-nen-kinh-te-tren-nen-tang-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-121223.htm
 
 
Go to Top